Họp Lớp Sau 20 Năm, Cô Giáo Vừa Thấy Chồng Tôi Đã Run Bắn: “ Nó Đang Gài Em C;ướp Nhà!”…….
Tôi tên là Lê Thục An, 37 tuổi, làm kế toán. Trước khi lấy chồng, tôi đã có một căn hộ 62 mét vuông ở Việt Hưng, Long Biên. Căn hộ ấy không rộng, phòng khách chỉ vừa đủ bộ sofa vải màu ghi, bếp hai người xoay lưng, ban công nhỏ đến nỗi phơi chăn phải đứng nghiêng. Vậy mà với tôi nó quý hơn vàng. Tôi mua nó năm 26 tuổi, từng đồng tiết kiệm từ lương kế toán, từng bát bún riêu tôi rẽ vào quán cơm bình dân để rẻ hơn năm nghìn. Mẹ ruột tôi – bà Lưu Thị Hòa, cả đời bán xôi ở chợ Ngọc Lâm – đã cho riêng tôi một phần tiền lớn trước khi bà mất. Hôm biết bệnh khó qua, mẹ đưa tôi túi hồ sơ bọc trong khăn tay cũ, bảo: “An à, mẹ không để lại được nhiều, nhưng khoản này mẹ cho riêng con để con có chỗ đứng. Lấy chồng thì phải biết nhịn, nhưng đừng nhịn đến mức người ta tưởng đời con là cái chiếu để họ giẫm lên.”
Tôi tất toán căn hộ trước khi đăng ký kết hôn. Sổ hồng đứng tên một mình tôi. Không phải vì tôi tính toán với ai, mà vì đó là phần đời mẹ tôi gửi lại.
Chồng tôi là Phạm Minh Sáng, hơn tôi hai tuổi, làm đội trưởng đội thi công điện lạnh. Ngày mới quen, anh không giàu, không nói ngọt, nhưng có hôm tôi quyết toán đến gần 10 giờ đêm, bước xuống cổng công ty đã thấy anh đứng nép bên gốc bằng lăng, tay cầm hộp cháo còn nóng. Anh cười hiền: “Ăn đi em. Người cũng như máy thôi, chạy quá công suất là sập nguồn đấy.” Đàn bà nhiều khi không cần người đàn ông hứa hái sao trên trời, chỉ cần lúc mình mệt có người nhớ mang cho bát cháo. Tôi thương anh từ những điều nhỏ như thế.
Sau cưới, anh dọn về căn hộ của tôi. Tôi chưa bao giờ coi anh là người ở nhờ. Trước mặt họ hàng, tôi vẫn nói đó là nhà của vợ chồng. Lương anh đưa được bao nhiêu, tôi nhận bấy nhiêu, không cằn nhằn. Rồi con gái chúng tôi ra đời – bé Vừng. Có con, căn hộ càng chật hơn, phòng ngủ kê thêm cũi, góc khác chất đầy xe tập đi, gấu bông. Nhưng lạ lắm, nhà chật mà lòng tôi lại thấy rộng. Buổi tối tôi nấu canh rau ngót, tiếng bé Vừng cười vang từ nhà tắm ra đến bếp. Tôi từng nghĩ đời mình như vậy là đủ.
Rồi mẹ chồng tôi – bà Bùi Thị Quế – lên ở cùng. Ban đầu bà rất khéo, gặp hàng xóm trong thang máy luôn miệng khen tôi. Bà bảo: “Con dâu thời nay được như cô An là hiếm.” Tôi đứng cạnh nghe mà lòng mềm đi. Người đàn bà mất mẹ ruột sớm như tôi nhiều khi chỉ cần một câu “con gái trong nhà” cũng đủ thấy ấm.
Nhưng cái ấm ấy không giữ được lâu.
Sau nửa tháng, bà bắt đầu hỏi những câu tưởng vô tình. Một buổi tối, tôi đang xếp hóa đơn trong ngăn kéo, bà đứng sau lưng: “Con An này, giấy tờ nhà mình con để đâu đấy?” Tôi đáp nhẹ: “Dạ, con cất riêng trong tủ.” Bà kéo ghế ngồi xuống, giọng vẫn mềm: “Đàn bà cầm nhiều giấy tờ quá cũng nặng tay. Nhà cửa có chồng thì nên để đàn ông đứng ra, người ngoài nhìn vào mới nể.” Tôi cười nhạt: “Dạ, giấy tờ căn hộ này con làm trước khi cưới.” Bà ừ một tiếng nhưng ánh mắt không rời khỏi ngăn kéo.
Rồi em chồng tôi – Kiều Loan – ly hôn, dắt con trai lên ở nhờ. Cô ấy kéo theo ba chiếc vali to, một thùng nhựa đựng đồ chơi, hai túi quần áo lỉnh kỉnh. Vừa vào cửa, Loan đã thả phịch vali giữa phòng khách: “Ôi giời ơi, lên đường đến nơi muốn rũ cả chân.” Tôi đỡ đồ, dọn phòng cho hai mẹ con. Bữa cơm đầu tiên, Loan không đứng dậy dọn. Cô nằm dài trên sofa, lướt điện thoại. Bà Quế xua tay: “Cứ nghỉ đi con, việc nhà để chị An làm, chị quen rồi.” Câu ấy rơi xuống nhẹ tênh, nhưng tay tôi đang cầm chồng bát bỗng khựng lại. Tôi quen rồi. Phải, tôi quen đi làm về rồi nấu cơm, quen dọn dẹp, quen cười cho qua. Nhưng không có nghĩa là mọi người được quyền biến cái quen ấy thành bổn phận của tôi.
Từ ngày mẹ con Loan ở lại, căn hộ chẳng còn giữ được nếp cũ. Sáng ra phòng khách đã đầy tiếng hoạt hình mở lớn. Bé Sóc chạy từ sofa ra bếp, tay cầm xe đồ chơi, miệng la “né ra né ra”. Bé Vừng phải nép vào góc bàn ăn để chờ tôi buộc tóc. Mâm cơm nào bà Quế cũng gắp miếng ngon nhất cho Sáng, rồi đến Loan, rồi đến bé Sóc. Tôi thường tự động chọn phần đầu, phần đuôi hoặc những miếng vụn còn lại. Không ai bắt tôi làm vậy. Nhưng ánh mắt của bà và tiếng thở dài của Loan đủ khiến tôi hiểu: nếu tôi gắp miếng ngon cho mình, thế nào cũng có người bảo tôi tính toán.
Một buổi tối, tôi đi làm về muộn, trời mưa. Trên bàn ăn chỉ còn nồi cơm cháy và đĩa thức ăn nguội. Bé Vừng bê ra một bát nhỏ, trong bát có miếng trứng chiên con để dành. Con đặt trước mặt tôi, nói rất khẽ: “Mẹ ăn của con đi, con no rồi.” Tôi nhìn miếng trứng nhỏ, mắt cay xè. Một đứa trẻ tám tuổi còn biết để phần cho mẹ, vậy mà người lớn trong nhà lại không ai nghĩ đến chuyện đó. Tối hôm ấy, sau khi rửa bát xong, tôi vào phòng thấy bé Vừng ngồi trên giường, hai tay ôm gối. Con hỏi tôi: “Mẹ ơi, nhà của mẹ mà sao mẹ hay ăn sau cùng?” Tôi đứng chết lặng ở cửa. Câu hỏi ấy không to nhưng đâm vào lòng tôi đau hơn mọi lời cay nghiệt.
Chiều chủ nhật tuần ấy, bà Quế gọi cả nhà ngồi lại bàn. “Có việc trong nhà thì nên nói cho rõ, để lâu mất tình cảm.” Tôi chưa kịp hỏi việc gì thì Loan lấy từ ngăn tủ ra một tập giấy trắng. Bà Quế mở lời: “Mẹ nói thẳng, con đừng tự ái. Căn hộ này đúng là trước đây con mua, nhưng con lấy chồng rồi. Thằng Sáng cũng ở đây bao năm, tiền của công sức nó bỏ vào không ít. Bây giờ nhà cửa chỉ đứng tên một mình con, người ngoài nhìn vào họ cười. Con trai mẹ ăn nhờ ở đậu.” Tôi đặt hai tay lên đầu gối, cố giữ giọng bình tĩnh: “Mẹ nói người ngoài là ai ạ?” Loan chen vào: “Chị đừng bắt bẻ. Đàn ông ai chẳng cần sĩ diện. Anh em đi làm, người ta hỏi nhà đứng tên ai, chẳng lẽ nói đứng tên vợ? Nghe mất mặt lắm.”
Tôi chậm rãi đáp: “Căn hộ này tôi ký hợp đồng mua bán năm 2015, tất toán ngân hàng đầu năm 2017, sổ hồng đứng tên tôi trước khi đăng ký kết hôn. Tiền mua nhà gồm lương của tôi và khoản mẹ ruột tôi cho riêng trước khi mất. Sau cưới, anh Sáng về ở cùng, tôi chưa bao giờ coi anh ấy là khách trọ.” Bà Quế đập nhẹ tay xuống bàn: “Vợ chồng sống với nhau mà cái gì cũng lôi giấy tờ ra thì còn gì tình nghĩa.” Tôi nhìn bà: “Chính vì con muốn giữ tình nghĩa nên con mới muốn mọi thứ rõ ràng. Mập mờ hôm nay, ngày mai dễ thành oán hận.” Sáng lúc ấy mới lên tiếng: “Anh thêm tên anh vào sổ đâu phải thêm tên người dưng. Em làm căng như vậy, anh thật sự thấy mình không được tin tưởng.” Tôi quay sang anh: “Anh cần tên trên sổ để làm chồng em, hay cần em tin anh để sống tiếp với em?” Anh im lặng.
Tối hôm đó, tôi không ngủ được. Tôi mở tủ lấy chiếc hộp sắt màu xanh, bên trong là toàn bộ giấy tờ quan trọng nhất đời tôi: hợp đồng mua bán, giấy tất toán, sổ hồng, sao kê khoản tiền mẹ chuyển, cả tờ giấy viết tay của mẹ với nét chữ nguệch ngoạc. Tôi chạm tay lên tờ giấy ấy, cổ họng nghẹn lại. Tôi không thể để chỗ dựa cuối cùng của mẹ con mình bị người khác gọi là “của nhà chồng” chỉ bằng vài câu đạo lý.
Ba ngày sau, tôi phát hiện Kiều Loan lục tủ phòng ngủ của tôi. Cô ta bảo tìm dây sạc. Tôi không cãi lớn, chỉ nói: “Lần sau cần gì thì hỏi, đừng tự vào phòng riêng.” Loan lập tức đổi sắc: “Phòng riêng cơ đấy. Nhà có mấy chục mét vuông mà chị phân ranh giới như biệt thự. Em đã bảo rồi, ăn nhờ ở đậu, động vào cái gì cũng sai.” Bà Quế nghe tiếng liền vào, không hỏi đầu đuôi đã nói: “Có cái dây sạc mà cũng làm căng. Con Loan là em chồng cô chứ có phải người ngoài đâu.” Tôi quay sang bà: “Mẹ nói đúng, em ấy không phải người ngoài, vậy càng nên giữ ý để trong nhà khỏi mất lòng nhau.” Bà cau mày: “Từ ngày cô khóa tủ đổi mật khẩu, cái nhà này ngạt như kho bạc. Sống vậy sao bền.”
Tối đó, bé Vừng ngồi học bài cạnh giường bỗng nói nhỏ: “Mẹ ơi, hôm trước cô Loan cũng vào phòng mẹ…………………………………………Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Cô bảo tìm kéo. Con quay vào lấy bút thì thấy cô mở ngăn kéo bàn của mẹ.” Tay tôi khựng lại. Tôi kéo con vào lòng. Một cơn giận lạnh chạy qua người.
Vài hôm sau, trong lúc giặt quần áo, tôi phát hiện trong túi áo khoác của Sáng một mảnh giấy nhầu. Trên giấy ghi: “Bích Vân 600 triệu, vay ngoài 400 triệu, hẹn trả 200 triệu tuần này.” Tổng cộng một tỷ đồng. Tôi gọi Sáng về. Anh thú nhận: hùn vốn nhập thiết bị điện lạnh với một người tên Tạ Đức Cường. Cường tắt máy, kho hàng không còn. Sáng vay Bích Vân 600 triệu, vay bạn bè lãi cao 400 triệu. Tôi hỏi từng câu: “Khoản vay này phát sinh khi nào? Khoảng hơn hai tháng. Tiền có đưa vào tài khoản gia đình không? Không. Dùng đóng học cho bé Vừng, trả tiền nhà, tiền thuốc của mẹ, tiền chợ? Anh lắc đầu. Vậy vì sao đến lúc trả, người đầu tiên anh nghĩ phải báo lại là em?” Anh ngẩng lên, mắt đỏ: “Anh sai nhưng anh là chồng em, anh gặp nạn em không thể đứng ngoài.”
Bà Quế nghe chuyện liền nói: “Cô giữ tiền giữ của chặt quá, thằng Sáng mới phải xoay bên ngoài. Đàn ông ra ngoài làm ăn cần vốn, vợ cứ bo bo ôm sổ, chồng túng quá thì phải liều.” Loan chen vào: “Có cái nhà nằm đó mà chị cứ giữ như báu vật. Anh tôi bị người ta dí, chị còn hỏi tiền dùng vào đâu. Nói thật nghe lạnh lòng.” Tôi nhìn cả ba người – một người vay nợ, hai người không hỏi đúng sai, chỉ nhìn về phía căn hộ của tôi như nhìn thấy phao cứu sinh. Tôi nói chậm từng chữ: “Khoản nợ này là nợ làm ăn riêng của Sáng. Tôi không ký, không biết từ đầu, tiền không dùng cho gia đình. Tôi có thể cùng anh ấy ngồi lại tính cách trả hợp pháp. Nhưng đừng ai nghĩ đến chuyện lấy mái nhà của mẹ con tôi ra làm vật thế thân.”
Rồi nhóm lớp cấp ba của tôi tổ chức họp lớp sau hơn 20 năm. Có cô Nguyễn Thị Mến – cô giáo chủ nhiệm cũ. Tôi muốn đi. Muốn được làm cô học trò cũ trong vài tiếng, không phải làm dâu, làm vợ. Tối hôm trước, tôi nói với Sáng: “Chủ nhật này em đi họp lớp.” Anh khựng lại, rồi bảo: “Cho anh đi cùng được không? Dạo này anh làm em buồn nhiều, anh muốn bù đắp.” Tôi nhìn anh. Lòng tôi lúc đó như cái bát đã nứt. Tôi hỏi: “Anh thật sự muốn đi vì em hay vì chuyện gì khác?” Anh cau mặt: “Em nghi ngờ anh đến vậy à?” Bà Quế chen vào: “Chồng muốn đi cùng vợ mà cũng đi hỏi.” Tôi đáp: “Được. Nhưng đó là buổi họp lớp của em, đừng để chuyện nhà mình ảnh hưởng mọi người.”
Hai ngày trước buổi họp, Loan bảo muốn gửi lẵng hoa cho cô giáo cũ của tôi. Cô ta bảo: “Dù gì chị An cũng là dâu nhà mình, chị đi họp lớp, nhà chồng cũng phải có chút thể diện.” Tôi nói không cần. Loan vẫn cười: “Em tiện đường ghé gửi thôi.” Chiều đó Sáng cũng ra ngoài, gần tối mới về. Áo anh có mùi nhang trầm nhẹ, không giống mùi công trình. Tôi hỏi anh đi đâu. Anh tránh mắt: “Có ghé cùng Loan gửi hoa cho lớp em.”
Sau này tôi mới biết, hôm đó Loan không chỉ gửi hoa. Cô ta cùng Sáng vào trường, hỏi bảo vệ chỗ để xe, hỏi đường vào nhà đa năng, rồi lân la đến khu phòng y tế và phòng nghỉ phía sau hội trường – chỗ yên tĩnh, gần cửa phụ, nếu có chuyện ồn ào thì người ta kéo đến rất nhanh.
Cô Mến – cô giáo tôi – có mặt ở trường hôm đó. Cô thấy một phụ nữ trẻ đi cùng một người đàn ông lạ quanh khu phòng nghỉ. Khi đi ngang hành lang, cô nghe Loan nói điện thoại, giọng hạ thấp nhưng vẫn lọt vài câu: “Cứ để chị ta thấy tận mắt, quay được cảnh mở cửa là xong. Đàn bà sợ nhất mất mặt trước lớp cũ, lúc đó bắt ký gì cũng ký.” Cô Mến không bước ra hỏi. Cô lặng lẽ mở điện thoại ghi âm một đoạn ngắn.
Tôi không biết gì cả. Sáng chủ nhật, tôi mặc chiếc váy xanh than, xách túi ra khỏi nhà. Trên đường đến trường, Sáng lái xe rất chậm. Tôi nhìn vai áo anh căng cứng. Tôi hỏi: “Anh có thật sự muốn đi không?” Anh im một lúc rồi nói: “Anh chỉ muốn mọi chuyện trong nhà qua đi.” Qua đi bằng cách nào? Anh không trả lời.
Sân trường cũ sáng hôm ấy đông vui. Cổng sắt sơn mới màu xanh, hàng bằng lăng trước dãy lớp học cao hơn nhiều so với ký ức của tôi. Nhà đa năng được trang trí ấm cúng. Mấy bạn cũ thấy tôi reo lên: “An kìa, lớp phó học tập ngày xưa đây rồi.” Tôi bật cười – nụ cười nhẹ nhất sau nhiều tháng. Sáng đi cạnh tôi, lịch sự chào mọi người. Mấy bạn nam bắt tay anh: “Chồng An đấy à? May nhé. Ngày xưa lớp tôi khối ông thích An mà không dám nói.” Sáng cười gượng. Tôi liếc anh, câu nói nghe vui nhưng bàn tay anh siết điện thoại rất chặt.
Tôi dẫn Sáng đến chào cô Mến. Cô ngồi ở bàn giáo viên, tóc bạc hơn nửa đầu, dáng người gầy đi nhưng đôi mắt vẫn sáng và hiền. Tôi nói: “Cô ơi, em là An đây ạ.” Cô Mến nhìn tôi, mỉm cười. Nhưng ngay khi ánh mắt cô chạm vào Sáng phía sau tôi, nụ cười ấy tắt hẳn. Tôi thấy rất rõ tay cô run lên. Chiếc cốc thủy tinh trong tay cô trượt khỏi kẽ ngón tay, rơi xuống nền gạch vỡ tanh tách. Nước bắn tung tóe. Mọi người hốt hoảng. Cô Mến nói: “Cô hơi chóng mặt.” Tôi vội đỡ cô: “Em đưa cô vào phòng y tế.” Cô nắm chặt tay tôi, bàn tay già lạnh ngắt nhưng lực rất mạnh. Cô nói: “An đưa cô vào thôi. Chồng em cứ ở ngoài.”
Tôi dìu cô vào phòng y tế phía sau hội trường. Vừa bước vào, cô tự tay khép cửa lại. Tôi lo lắng: “Cô ơi, cô chóng mặt ạ? Em gọi y tế nhé.” Cô quay phắt lại, hai tay nắm lấy tay tôi, giọng run nhưng từng chữ rõ như đóng đinh: “An, gọi người làm chứng ngay. Cô không đùa đâu. Em đang bị đưa vào một cái bẫy.” Tôi chết lặng. Cô bật điện thoại, mở đoạn ghi âm. Giọng Kiều Loan vang lên rõ mồn một: “Cứ để chị ta thấy tận mắt, quay được cảnh mở cửa là xong. Đàn bà sợ nhất mất mặt trước lớp cũ, lúc đó bắt ký gì cũng ký.”
Tôi bấu chặt mép ghế. Mồ hôi túa ra sau gáy. Cô Mến nhìn thẳng vào mắt tôi: “Lúc nãy cô vừa thấy chồng em, cô nhận ra ngay. Cô không dám kết luận chuyện nhà em, nhưng cô làm giáo viên mấy chục năm, cô biết ánh mắt người ta khi đang giấu điều gì. An, em đang bị đưa vào một cái bẫy.”
Tôi như bị ai rút hết sức. Bao nhiêu chuyện mấy ngày qua hiện lên cùng lúc: tập hồ sơ ép ký, chữ ký nháp, Loan nói “phải đánh vào mặt mũi”, Sáng xin đi họp lớp, tin nhắn anh cứ giấu trên điện thoại. Tôi đứng bật dậy: “Em phải ra hỏi anh ấy.” Cô Mến giữ chặt tay tôi: “Nghe cô. Đừng mở bất cứ cánh cửa nào bằng cơn ghen. Nếu họ chờ em nổi nóng, em càng phải bình tĩnh. Muốn mở gì thì gọi người làm chứng – gọi bảo vệ trường, gọi lớp trưởng, gọi thầy hiệu phó, gọi người có thẩm quyền. Có người chứng kiến rồi hãy bước tiếp.” Tôi thở dốc, mắt cay xè. Cô nói tiếp: “Sự thật không chạy mất nếu em chậm lại vài phút. Nhưng danh dự của em có thể mất nếu em lao ra đúng lúc người ta chờ.”
Ngoài hành lang, tiếng Loan vang lên rất rõ: “Chị An đâu rồi? Sáng chóng mặt quá, em đưa anh ấy vào phòng nghỉ rồi.” Rồi giọng một phụ nữ lạ: “Minh Sáng đâu? Anh hẹn tôi tới đây để nói chuyện tiền mà sao lại bắt tôi đứng chờ?” – Đào Bích Vân. Tôi nhìn cô Mến. Cô chậm rãi đứng dậy, cầm điện thoại có đoạn ghi âm trong tay, giọng trầm xuống: “An, từ giây phút này em không đi một mình nữa.”
Tôi lấy điện thoại ra, gọi cho lớp trưởng Hòa và người có thẩm quyền tại địa phương. Tay tôi run nhưng giọng tôi cố giữ rõ từng chữ: “Tôi là Lê Thục An, hiện đang ở trường cấp ba cũ trong buổi họp lớp tại nhà đa năng. Có người bị đưa vào phòng nghỉ trong tình trạng choáng váng, có dấu hiệu bị dựng cảnh, quay lén và liên quan đến việc ép ký giấy tờ tài sản. Tôi đề nghị người có thẩm quyền cử cán bộ đến hỗ trợ, đồng thời chúng tôi sẽ giữ nguyên hiện trường.”
Hòa nghe xong sững người. Cô Mến đưa điện thoại có đoạn ghi âm cho Hòa: “Hòa, em gọi thầy Thụ và chú bảo vệ lên đây. Đừng để ai tự ý vào phòng đó trước khi có người chứng kiến.”
Khi cánh cửa phòng nghỉ được mở ra trước mặt thầy Thụ, chú bảo vệ, Hòa, cô Mến, Bích Vân và tôi – cùng hai người có thẩm quyền vừa đến – tôi thấy Sáng nằm trên ghế, mặt tái nhợt, môi khô, cúc áo sơ mi trên cùng bung ra nhưng quần áo vẫn chỉnh tề. Bích Vân đứng trong góc phòng, mặt hoảng thật sự. Trên bàn có hai ly nước nhựa, một ly còn gần nửa, ly kia chỉ chút nước đục dưới đáy. Một vệt bột trắng chưa tan hết bám quanh thành ly.
Người có thẩm quyền lập tức nói: “Hai ly nước này giữ nguyên, chờ người có chuyên môn kiểm tra.” Rồi chú bảo vệ đi kiểm tra hành lang, phát hiện trong bình hoa giả gần cửa một camera mini màu đen, ống kính quay ra hành lang – đúng phía cửa phòng nghỉ. Tôi nghe mà gáy nổi da gà. Nó không quay cảnh bên trong. Nó chờ quay tôi. Chờ tôi mất bình tĩnh, chờ khuôn mặt tôi méo đi vì đau và nhục.
Người có thẩm quyền kiểm tra túi xách của Kiều Loan trước sự chứng kiến của nhiều người. Trong túi có điện thoại của Bích Vân, và một sấp giấy: bản photo sổ hồng căn hộ của tôi, căn cước công dân của tôi, giấy đồng ý dùng căn hộ bảo đảm khoản vay, giấy cam kết vợ chồng cùng trả nợ, bản nháp thỏa thuận ly hôn. Tất cả nằm trong túi của Kiều Loan. Cùng lúc đó, bé Vừng – con gái tôi – được cô giáo ở lớp kỹ năng đưa đến. Con bé chìa ra một thẻ nhớ nhỏ xíu: “Mẹ ơi, cái này của cô Loan rơi trong xe. Con cất trong hộp bút.” Khi đoạn video trong thẻ nhớ được mở ra, cả căn phòng im phăng phắc. Kiều Loan ngồi trong xe, tự chỉnh camera mini, giọng rõ từng chữ: “Lúc này quay được mặt chị An lúc mở cửa. Chỉ cần chị ấy lao vào là mình có clip. Lúc đó ép ký giấy bảo đảm khoản vay hay giấy gì cũng dễ. Đàn bà sợ nhất là nhục trước bạn cũ, để xem chị còn ôm cái sổ hồng được bao lâu.”
Bé Vừng đứng nép bên tôi, tay nắm chặt vạt áo mẹ, hỏi nhỏ: “Mẹ ơi, cô Loan nói xấu mẹ hả?” Tôi kéo con vào lòng, vuốt lưng con: “Không sao, mẹ ở đây.”
Sau buổi họp lớp hôm ấy, tôi không về căn hộ ngay. Hoài Như – bạn thân làm bên mảng giấy tờ – giúp tôi sắp xếp lại toàn bộ hồ sơ, tách rõ từng phần: giấy tờ căn hộ, chứng cứ khoản nợ, đoạn ghi âm của cô Mến, video trong thẻ nhớ, biên bản làm việc, bài đăng bôi nhọ trên mạng. Cậu ấy nói: “Căn hộ của cậu có cơ sở là tài sản riêng. Nếu bên kia nói có đóng góp sửa chữa thì cùng lắm tòa xem xét phần giá trị hợp lý, chứ không thể biến căn hộ thành tài sản chung bằng mấy câu ‘ở lâu là có phần’.”
Tôi nộp đơn ly hôn. Quá trình không nhẹ nhàng. Bà Quế trách
trách tôi làm tan nhà nát cửa. Loan nhắn tin mắng tôi cạn tình. Nhưng tôi không đôi co nữa. Tôi để giấy tờ nói thay cảm xúc, để sự thật đứng đúng chỗ của nó. Tôi được trực tiếp nuôi bé Vừng. Căn hộ vẫn thuộc về tôi. Khi người am hiểu giấy tờ nói câu ấy, tôi bật khóc. Không phải vì thắng. Mà vì cuối cùng tôi giữ được lời hứa với mẹ ruột – không để đời mình thành cái chiếu cho người ta giẫm lên.
Bà Quế và Loan dọn đi. Căn hộ im lặng lạ thường. Tối hôm ấy tôi nấu một nồi canh rau ngót, kho hai khúc cá chiên, thêm quả trứng cho bé Vừng. Mâm cơm chỉ có hai mẹ con – vậy mà ấm lạ. Bé Vừng gắp miếng cá ngon nhất vào bát tôi: “Mẹ ăn đi, hôm nay con để phần mẹ nhiều nhất.” Tôi nhìn con, nước mắt rơi xuống bát cơm. Sau bao ngày sống trong căn nhà đông người mà cô độc, cuối cùng tôi cũng hiểu: mái nhà đúng nghĩa không nằm ở việc có bao nhiêu người ngồi quanh mâm. Nó nằm ở chỗ không ai phải ăn phần thừa của tình thương.
Tôi mất một cuộc hôn nhân, mất ảo tưởng về nhà chồng. Nhưng tôi giữ được con, giữ được căn hộ, giữ được danh dự và giữ lại chính mình.