Lính trinh sát Sư đoàn 4 kể lại trận chiến giành từng mét đất tại Tà Keo – kho vàng giữa chiến trường và cái giá phải trả…….

 Lính trinh sát Sư đoàn 4 kể lại trận chiến giành từng mét đất tại Tà Keo – kho vàng giữa chiến trường và cái giá phải trả……..
……………………………………………
Tôi là Nguyễn Khắc Tòa, trinh sát Đại đội 3, Trung đoàn 320, Sư đoàn 4, Quân khu 9. Tôi xin kể lại những ngày tháng tôi cùng đồng đội chiến đấu trên đất Campuchia năm 1979.
Buổi sáng ngày 6 tháng 1, chúng tôi được cơ động bằng xe GMC. Đội hình sư đoàn đang hành quân thì vào khoảng hơn 10 giờ, phải dừng lại vì các trung đoàn mở đường bị địch đánh chặn. Pháo của địch trên núi bắn cấp tập vào đội hình. Pháo bên ta cũng đáp trả, hai bên đấu pháo bất phân thắng bại.
Tôi nghe các anh cán bộ đại đội kháo nhau rằng sư đoàn đã điều các trung đoàn bộ binh lên nhưng bị chúng chống trả quyết liệt. Khoảng 4 giờ chiều, sư đoàn tăng cường xe tăng, xe bọc thép nhưng do dính lầy, không phối hợp được với Trung đoàn 20. Sư đoàn tiếp tục tung Trung đoàn 2 bộ binh bám dọc Quốc lộ 2 lên hỗ trợ. Pháo binh của sư đoàn đã bắn cả trăm trái pháo các loại vào trận địa của chúng, nhưng quân ta nhiều lần tổ chức tấn công vẫn chưa dứt điểm được mục tiêu.
Tối đó, lệnh từ Bộ chỉ huy sư đoàn: ngừng tấn công, giữ nguyên trận địa, chờ sáng mai đánh tiếp. Chúng tôi dậm chân tại chỗ. Đêm nghỉ lại, cán bộ đại đội bố trí đội hình canh gác. Sau khi các trung đội nhận nhiệm vụ, người nào không phụ nấu cơm thì đào công sự phòng khi ban đêm bọn chúng tập kích.
Trời chưa sáng rõ, chúng tôi đã nghe phía trước tiếng súng đạn nổ dồn dập. Các trung đoàn bộ binh đang mở cuộc tiến công lên các cao điểm. 7 giờ sáng, chúng tôi cơm nước xong chờ lệnh. Khoảng 9 giờ, tôi nghe rõ tiếng súng nổ, một lúc sau thấy một đám cháy lớn kéo theo khói bụi mù mịt. Các anh cán bộ cho biết bọn địch chống cự không nổi, chúng đã bỏ chạy nhưng trước khi chạy đã đốt kho xăng.
Đến khoảng 10 giờ, đội hình của sư đoàn tiếp tục tiến lên. Hơn 2 giờ chiều, sư đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc còn cách thị xã Tà Keo khoảng 15 km và tạm thời dừng chân. Theo sự phân công, đại đội tôi phối thuộc cùng Trung đoàn 2, nhiệm vụ bám theo lộ 2 đánh vào trung tâm thị xã.
Trên đường tiến vào khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi thấy một ao nước hình tròn, diện tích ước chừng 200 mét vuông. Ngay phía trước là nhà ăn tập thể của bọn chúng với khoảng 5 dãy lò, mỗi dãy 10 cái chảo đường kính 1 mét. Than vẫn còn nóng. Đại đội trưởng báo bằng điện đàm về trên. Lệnh của trên: sẵn sàng chiến đấu.
Lúc này chúng tôi vừa tiến vừa quan sát. Bỗng nghe tiếng nổ “đùng” liên tiếp, theo sau là những tiếng nổ như trời của các loại đạn súng từ bên địch bắn tới. Theo phản xạ, tất cả nằm rạp xuống, lăn lê bò trườn tìm địa hình địa vật để tránh đạn và bắt đầu đánh trả. Hỏa lực của địch được Trung Quốc trang bị khá mạnh. Ta cố gắng tiến lên, chúng quyết giữ. Trang bị vũ khí của ta có hạn, cơ số đạn mang trên mỗi người không nhiều. Địch cố thủ đã chuẩn bị từ trước, bắn không giới hạn.
Chúng ba lần hô xung phong đánh bật ta lui về phía sau nhưng không thành. Mỗi lần chúng xung phong là một lần để lại xác chết. Bên ta tranh thủ củng cố lại công sự. Đất ruộng bỏ hoang lại là mùa khô, đào công sự tay mọi người tuy máu hầm hố vẫn nông. Ai cũng cố gắng đào sao cho đạn vào đầu, vì đạn vào các bộ phận khác chưa chắc đã chết nhưng vào đầu thì 99% về cõi vĩnh hằng.
Qua ba lần chống trả, đạn và lựu đạn đã sắp hết. Tôi đã bắn hết năm trái B41. Mặt trời sắp chìm, vận tải sư đoàn chuyển vũ khí xuống tăng cường. Mọi người tranh thủ lúc im tiếng súng lấy cơm ra ăn. Đánh nhau dai dẳng đến tối, hai bên tạm thời yên tiếng súng. Tổng kết, đại đội tổn thất 3 tử sĩ, 6 thương binh. Trung đội tôi hi sinh 1, bị thương 2.
Sáng hôm sau, chúng tôi được cán bộ đại đội thông báo sẵn sàng cho trận đánh chiếm thị xã Tà Keo. 4 giờ sáng, cán bộ trung đội đánh thức chúng tôi dậy. Mọi người phụ anh nuôi nấu cơm, che chắn không cho ánh sáng lọt ra ngoài, sợ địch phát hiện. 5 giờ, chúng tôi cơm nước xong và đợi lệnh.
Nghe pháo các loại của ta cấp tập bắn vào thị xã khoảng 3-4 phút, lệnh của đại đội trưởng: toàn đại đội dàn hàng ngang tiến về thị xã. Trời chưa sáng rõ nên đi rất chậm. Khoảng 6 giờ sáng, mọi vật đã hiện rõ. Mỗi khi gặp lùm cây hay dãy nhà, quân ta cứ bắn đặt vào. Phía trước chỉ nghe tiếng súng yếu ớt. Hơn 7 giờ sáng, đại đội tôi đã vào tới thị xã.
Chiều hôm đó, có một đoàn xe GMC chừng 5-6 chiếc dừng lại, bên trong toàn phụ nữ và trẻ con. Hỏi ra mới biết, khi Quân đoàn 2 đánh chiếm các căn cứ, chúng tháo chạy, đây là những người phụ nữ đã trốn thoát. Trước đây mỗi lần đánh qua biên giới, người già, trai trẻ, trẻ em chúng đều tàn sát. Phụ nữ có nhan sắc bị bắt về làm nô lệ tình dục. Phần lớn là dân miền Bắc đi xây dựng kinh tế mới, từ Thái Bình là nhiều nhất.
Buổi chiều, chúng tôi tiếp tục truy quét. Khoảng 2 giờ, trung đội tôi gặp một số lính Pol Pot, chúng bắn trả rồi tháo chạy. Chúng tôi tiến vào một gian nhà gỗ, bên trong là những hộp vuông vắn xếp cao gần nửa mét. Hóa ra đó là vàng. Các trung đội khác cũng chạy tới. Vàng đủ các loại: thỏi, nhẫn, dây chuyền. Vài phút sau, cán bộ đại đội có mặt. Anh Hoàng ra lệnh: “Tất cả để vàng lại, không ai được lấy.” Anh đứng với khẩu K54 trên tay, ai cũng vội chạy ra ngoài. Sư đoàn lệnh cho đại đội chốt giữ kho, sau đó xe quân khu xuống tiếp nhận. Nghe nói số vàng sau đó được trả lại cho chính quyền bạn.
Nhưng có người vẫn giấu được một ít. Trận truy quét hôm sau, chúng tôi gặp phải bãi mìn………………………………..Mời quý đọc giả đọc phần PHẨN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Lính tiểu đội 1, tiểu đội 2 vướng mìn, hai chiến sĩ hi sinh tại chỗ, 3 bị thương nặng. Một chiến sĩ tên Tuế, trước khi chết còn kịp gọi: “Thương mẹ quá, mẹ ơi!” Đồng đội vuốt mắt cho anh yên nghỉ. Mìn là nỗi ám ảnh đáng sợ nhất của lính ta. Đại đội trinh sát hi sinh 3 người, trong đó có Trung đội trưởng Trung đội 1, bị thương 5 người.
Sau trận đó, ai có vàng giấu hôm trước đều vứt sạch hoặc cho dân. Sinh mệnh con người là quan trọng nhất, vàng có mua được mạng sống đâu.
Sáng ngày 17 tháng 1, sư đoàn quay về đánh lấy lại Tà Keo. Đường đi liên tục bị Pol Pot phục đánh. Trung đoàn 2 vừa đi vừa mở đường. Qua ba ngày mới giải phóng được 18 km đường. Từ Oudong quay về, hàng trăm tử sĩ thương binh không thể đưa về tuyến sau, sư đoàn phải để lại một bộ phận lo giải quyết.
Trong cuộc hành quân, chúng tôi đã đói đến phát điên. Bụng ai cũng sôi sục, trên vai mang vác vũ khí, giữa cái nắng như thiêu đốt. Chúng tôi phải ăn lương khô, gạo sấy thay cơm. Ngày 15 tháng 1, địch phục kích đoàn xe của ta, khóa đầu khóa đuôi, bắn đốt gần 100 chiếc xe vận chuyển lương thực.
Ngày 23 tháng 1, trung đội tôi có nhiệm vụ vận chuyển thương binh tử sĩ về tuyến sau. Chúng tôi vừa cõng vừa lôi, vừa chạy vừa ngã. Chiều hôm đó, lính đại đội tôi bắt được cả chục con gà, làm nồi cháo gà ngay trên chiến trường – bữa ăn tuyệt vời sau cả tuần chỉ ăn gạo sấy.
Trận đánh lớn nhất diễn ra tại ngã ba Bắt Đăng. Sư đoàn dùng tổng lực, phối hợp với Trung đoàn 20, Tiểu đoàn 9 Sư 339. Bốn xe tăng dũng mãnh lao lên, bộ binh xông theo. Hỏa lực địch mạnh, đánh trả quyết liệt. Đại đội trưởng Hoàng hy sinh vì mảnh đạn M79. Tôi nhìn thấy anh ngã xuống, lao lên kéo anh về vị trí ẩn nấp nhưng anh đã tắt thở. Anh Hoàng từng tham gia đánh Thành Cổ Quảng Trị 81 ngày đêm, may mắn còn sống, vậy mà trận này anh đã ra đi.
Anh Linh thay anh Hoàng chỉ huy. Trận đánh giành giật từng mét đất, cuối cùng ta làm chủ thị xã Tà Keo vào 4 giờ chiều ngày 26 tháng 1.
Tết đến ngày 29 tháng Chạp. Ai cũng thảng thốt khi nghĩ Tết đã về. Mới Tết năm trước còn đoàn tụ với gia đình, nay đã ở chiến trường, ngửi mùi thuốc súng thay vì mùi bánh chưng. Khẩu phần Tết của mỗi người được một đòn bánh tét, một cân thịt heo muối, nửa cân đường, một lon sữa bò, hai gói thuốc. Nhưng ngày Tết của chúng tôi phải trực chiến cao độ. Đúng như nhận định, rạng sáng mùng 1 Tết, bọn Pol Pot dùng pháo 105mm, 37 ly bắn vào thị xã, tấn công hướng tây và tây nam. Nhờ đề phòng từ trước nên thiệt hại không lớn.
Trong những ngày truy quét sau đó, tôi gặp lại một người cùng xã. Anh cho biết người bạn tên Cẩn đã bị Pol Pot bắt và hành hình dã man. Tôi cũng nhìn thấy một bà mẹ Campuchia bế đứa trẻ đói khát ngồi bên đường, tôi đã đưa cho bà sữa và lương khô. Những người đi sau cũng làm theo.
Giữa tháng 2, chúng tôi tham gia chiến dịch truy quét 2B. Khi hành quân qua các vườn dừa, vì khát nước, chúng tôi uống nước dừa thỏa thích và phải nhận hậu quả là đau bụng suốt cả ngày. Sau đó, dù khát cháy cổ cũng không dám uống nhiều.
Cũng trong thời gian này, một sự kiện đau lòng xảy ra: có anh Trung đội trưởng bị cách chức xuống làm chiến sĩ vì chỉ vẽ cây mía ăn. Ở Sư 341, một anh Tham mưu trưởng Trung đoàn bị tử hình vì vi phạm dân vận. Những vụ việc đó là bài học nhớ đời cho tất cả chúng tôi.
Gần cuối tháng 2, chúng tôi nhận được tin vui: Thượng tướng Lê Trọng Tấn đến thăm và chúc mừng chiến thắng của Sư đoàn 4. Chúng tôi được ăn ké, có sữa, đường, thuốc lá.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Những ngày truy quét, có lúc hai đơn vị của ta tưởng nhầm nhau là địch và bắn vào nhau. May là không có tử sĩ, chỉ có thương binh.
Tôi nhớ mãi những ngày tháng ấy – những ngày đói, ngày đau, ngày mất đồng đội, nhưng cũng là những ngày tình đồng đội thiêng liêng nhất. Chúng tôi đã chiến đấu vì hòa bình, vì sự sống còn của nhân dân Campuchia và cũng vì biên cương Tổ quốc.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!