Bị Con Pol Pot Tr;ói Dẫn Đi Suốt 4 Ngày – Tôi Tưởng Đã Ch;ết Trong Tay K;ẻ Th;ù Và Cái K;ết Không Tưởng…
Tôi tên là Hòa, lính trinh sát của đơn vị đóng quân sát biên giới Tây Nam. Đó là một buổi sáng tưởng chừng bình thường, nhưng chỉ vài giờ sau, tôi đã rơi vào một hành trình mà cả đời khó thể quên.
Chúng tôi nhận nhiệm vụ từ lúc trời còn lờ mờ sáng. Tôi được lệnh đi trước để thám sát, nắm tuyến đường di chuyển đi sâu vào nội địa địch. Mọi thứ diễn ra nhanh, gọn, im lặng như bản chất của một trinh sát phải có. Tôi mang theo sú;ng AK, bi đông nước, ít lương khô, la bàn, bản đồ gấp làm tư và dao găm bên hông. Tất cả tưởng như đủ – cho đến khi tôi mất liên lạc với đơn vị.
Tôi nhớ rõ mình đi đúng hướng. La bàn chỉ hướng đông nam, cũng là hướng cần tiếp cận. Tôi men theo một con suối nhỏ như vệt chì bạc uốn lượn dưới tán rừng. Tiếng nước chảy róc rách làm tôi yên tâm phần nào. Rừng hoang vắng nhưng có tiếng suối, nghĩa là còn đường sống, còn dấu hiệu của sự sống.
Thế rồi tôi phát hiện những dấu chân người trên nền đất ẩm, còn mới không quá nửa ngày. Ban đầu tôi tưởng là dấu của dân địa phương lên rừng hái măng, đốn củi. Nhưng càng quan sát kỹ, tim tôi càng đập mạnh. Những dấu giày giống loại dép râu tự chế của lính Khmer Đỏ, mòn lệch sang một bên – kiểu đặc trưng mà trinh sát chúng tôi được học cách nhận biết. Tôi đứng im gần một phút để phân tích, rồi quyết định vòng sang lối khác, tránh điểm nghi ngờ có phục kích.
Có thể chính lựa chọn đó là bước ngoặt khiến tôi lạc đường. Tôi đi vòng khá xa, men theo sườn dốc thoai thoải rồi chuyển sang dốc đứng hơn trên cao. Những thân cổ thụ giao tán thành mái vòm tự nhiên che hết cả trời. Đến lúc nhận ra mình không còn nghe thấy tiếng suối nữa, tôi biết có điều gì đó không ổn. Tôi dừng lại xem la bàn và bản đồ, nhưng đồng thời tiếng chim rừng im bặt khiến gáy tôi lạnh toát. Sự im lặng tuyệt đối trong rừng không bao giờ là tín hiệu tốt.
Tôi chưa kịp cất bản đồ thì mặt đất dưới chân bỗng hụt xuống. Cả cơ thể tôi rơi thẳng vào một hố sâu chừng hai mét. Dưới đáy cắm chi chít những đầu chông nhọn hoắt bằng tre đã vót, có tẩm nhựa cây. Bản năng sinh tồn giúp tôi xoay người cho rơi lệch sang một bên, tránh bị đâm thẳng vào người. Dù vậy, một mũi chông vẫn xuyên qua bắp chân trái. Cơn đau buốt đến mức tôi phải cắn chặt môi để không bật tiếng kêu.
Tôi biết đây là bẫy của Khmer Đỏ. Nếu tôi ngã đúng vị trí trung tâm của hố, có khi giờ này đã thành xác. Tôi lập tức trấn tỉnh, cắn răng bẻ mẫu gỗ quanh vết thương để rút chân ra khỏi mũi chông. Máu chảy nhiều hơn tôi tưởng. Tôi cố lấy băng gạt trong túi cứu thương cá nhân, rửa sơ bằng vài giọt nước rồi băng ép lại. Phải mất gần nửa giờ tôi mới tự kéo mình lên được bằng sợi dây dù mang theo. Khi thoát khỏi hố, tôi nằm vật ra đất, thở dốc, nhìn trời mà thấy cuộc đời mong manh đến lạ.
Rồi một sự thật khủng khiếp ập đến: la bàn của tôi đã rơi xuống hố và kim đã lệch, không còn chính xác. Bản đồ thì rơi vung vãi, tôi thu lại nhưng các mốc định vị trong rừng giờ chẳng còn ý nghĩa gì. Tôi quyết định tạm thời dựa theo kinh nghiệm mà đi – theo hướng mặt trời, theo dốc thoát nước, theo tiếng chim rừng để phán đoán khu nào có người sinh sống. Nhưng mỗi bước chân là mỗi lần chân tôi tê buốt. Tôi chống một cành cây làm gậy, lê bước. Mặt trời lên cao rồi lại ngã về chiều. Rừng dần đổi màu từ xanh sang xám, rồi thành màu đen khi ánh nắng bị nuốt trọn.
Tôi khát nước, đói cồn cào. Bi đông chỉ còn chưa đến nửa. Tôi chia nhỏ từng ngụm, cố kéo dài đến khi tìm được suối. Đêm buông xuống nhanh như đóng sập một cánh cửa. Trong rừng, bóng tối không chỉ là tối – nó đặc quánh như có thể chạm vào được. Tôi tìm một gốc cây to, leo lên thân cây cách mặt đất chừng một mét rưỡi, buộc người vào thân bằng dây dù để tránh ngã khi ngủ. Đây là kỹ năng sinh tồn tôi được huấn luyện – ngủ trên cao để tránh thú dữ và rắn rết. Tôi không dám chợp mắt ngay, tay vẫn nắm súng, tai nghe tiếng lá khô xào xạc, tiếng côn trùng kêu rền rỉ, tiếng gió thổi qua tán cây nghe như ai thì thầm. Đó là đêm dài nhất đời tôi. Đến khoảng gần nửa đêm, trời đổ mưa rừng. Mưa lớn đến mức tôi gần như bị tạt khỏi thân cây – lạnh, ướt, đói, đau – tất cả hợp lại như một cực hình. Nhiều lúc tôi tự hỏi mình có chết ở đây không. Nghĩ đến mẹ già và em gái ở quê, lòng tôi thắt lại. Tôi tự nhủ không được chết. Dù gì mình cũng phải trở về.
Khi trời vừa hừng sáng, tôi bắt đầu di chuyển tiếp. Sau đêm mưa, đất nhão, đường trơn, việc đi lại khó khăn hơn gấp bội. Tôi nghe loáng thoáng tiếng suối xa xa, tim bừng lên hy vọng. Tôi lần theo âm thanh đó và đến được một con suối nhỏ, nước trong vắt. Tôi cúi xuống vục nước rửa mặt, uống vài ngụm nhỏ để tránh sóc nước.
Nhưng vừa định lấy nước vào bi đông thì phía bụi rậm bên kia suối có tiếng động lạ. Lá rung nhẹ rồi im bặt. Tôi đứng khựng lại, tay nắm chặt súng. Chân tôi đau, cơ thể kiệt quệ. Nếu là địch, tôi khó lòng chống trả. Tôi nín thở, chăm chú nhìn vào khe trống giữa bụi cây. Vài giây sau, một bóng người thấp thoáng. Tôi chỉ kịp thấy một màu áo nâu xám lẫn trong màu đất – kiểu áo rất giống của lính Khmer Đỏ. Tôi rùng mình. Tôi biết mình đang ở sâu trong rừng, rất có thể sát lãnh thổ địch.
Tôi lùi nhẹ về phía sau một bước thì vô tình dẫm lên cành khô. Tiếng rắc vang lên trong không gian im ắng, nghe như tiếng súng nổ. Bóng người bên kia lập tức giật mình, xoay người nhìn về phía tôi. Tôi không thể rút lui nữa. Lúc ấy tôi chỉ kịp nghĩ: nếu là địch, mình phải nổ súng trước. Tôi dương s;úng lên, nhưng ngay khoảnh khắc đó, chân trái tôi khuỵu xuống vì cơn đau dữ dội bất ngờ. Khẩu súng suýt trượt khỏi tay. Tôi c;ắn răng gượng đứng dậy nhưng không kịp.
Bụi rậm đối diện tách ra, và người đó bước ra.
Đó là một cô gái. Tôi ngỡ mình nhìn nhầm. Một cô gái dáng người nhỏ gọn, mắt sắc và cảnh giác, tay cầm khẩu s;úng CKC. Cô mặc bộ đồ nâu bạc màu, tóc cột gọn sau gáy. Ánh mắt cô lướt một vòng từ đầu đến chân tôi rồi dừng lại ở vết máu thấm qua băng ở chân trái tôi. Khoảng cách giữa chúng tôi chừng hơn mười mét, nhưng đủ để cô ta bóp cò nếu muốn. Chúng tôi đứng bất động vài giây, nhìn chằm chằm vào nhau. Tôi đưa súng lên chậm rãi, tay run vì đau và mệt. Cô ta cũng nhấc súng lên, nhắm thẳng vào tôi. Không ai dám nổ súng trước, vì chỉ một giây chậm trễ sẽ trả giá bằng mạng sống.
Tôi hít sâu, cố giữ giọng bình tĩnh nhất có thể. Tôi nói bằng tiếng Khmer mà tôi được học trong quân đội: “Đừng b;ắn.” Ánh mắt cô thoáng ngạc nhiên vì tôi biết nói tiếng Khmer. Nhưng ngay sau đó, đôi mắt ấy trở nên sắc hơn, lạnh hơn. Cô ta siết cò thêm một chút, giọng khàn nhưng dứt khoát: “Im đi.” Tôi đứng yên như hóa đá. Da tôi nổi da gà. Chỉ một động tác sai lầm, mọi thứ sẽ chấm dứt tại đây, trong khu rừng vô danh này, không một ai biết. Và đó chính là khoảnh khắc tôi biết: một ngày lạc trong rừng của tôi chỉ mới bắt đầu.
Tôi hạ s;úng xuống rồi buông, đặt xuống đất. “Tôi chỉ muốn sống.” Cô ta nghiêng đầu như thể đó là điều nực cười. Vừa khi sú;ng chạm đất, cô lao đến như thú rừng, họng sú;ng CKC dí sát trán tôi. “Ngồi xuống!” Tôi làm theo, không cãi. Ánh mắt cô ta gần ở khoảng cách này cho tôi thấy rõ: cô ta còn trẻ, có lẽ chưa đến hai mươi, nhưng đôi mắt lại già trước tuổi vì chiến tranh.
“Bỏ hết đồ trong người ra.” Cô ra lệnh nhanh. Tôi lấy từng món: d;ao g;ăm, bi đông, lương khô, băng gạt, bật l;ửa, bản đồ. Cô xem bản đồ mở ra rồi mỉa mai: “Định đi sâu vào đất của bọn tao à?” Tôi im lặng. Cô gấp bản đồ lại, giật sợi dây dù từ ba lô tôi và trói chặt tay tôi – nút buộc của người có kinh nghiệm, không phải kiểu buộc cho có. Cô tiếp tục vòng dây xuống chân tôi, chạm vào vết thương khiến tôi đau bật tiếng rên. Cô nhìn vết m;áu: “Bị bẫy hả?” Tôi gật. “Bẫy rừng.” Cô nói lạnh: “Đáng đời.” Cô kéo tôi đứng dậy, tôi loạng choạng suýt ngã. Cô giật cổ áo tôi: “Đi.” “Đi đâu?” “Về chỉ huy của tao. Tao bắt được lính Việt Nam, tao sẽ được thưởng.”
Nghe vậy, cổ họng tôi nghẹn lại. Tôi lê bước, mỗi bước như có lưỡi dao cắm vào chân. “Đi nhanh lên!” Cô quát. Nhưng tôi bình tĩnh nói: “Nếu tôi đi nhanh, vết thương rách ra, tôi chết giữa rừng. Cô không chứng minh được bắt được tôi.” Cô chần chừ rồi gắt nhẹ: “Được, nhưng đừng dở trò.” Chúng tôi đi dọc con suối. Tiếng nước chảy róc rách hòa cùng tiếng lá xào xạc. Tôi thử mở lời: “Cô cũng bị lạc sao?” Cô im lặng. “Hôm qua trời mưa lớn, cô ngủ đâu?” Cô đáp gọn: “Không cần mày lo.” Chỉ vài chữ đó cũng đủ cho tôi biết cô cũng lạc. Tôi thấy chóng mặt. “Xin nghỉ một chút.” “Không.” “Nếu tôi ngất, cô kéo nổi không?” Cô lại dừng, suy nghĩ rồi miễn cưỡng: “Năm phút.”
Tôi ngồi trên tảng đá bên suối, rửa tay, uống vài ngụm nước. Cô đứng canh, s;úng chỉa vào tôi. Tôi hỏi nhẹ: “Cô tên gì?” “Không cần biết.” Tôi cười nhạt: “Tôi muốn biết tên người sắp gi;ết mình.” Cô nói: “Tao không giế;t mày. Chỉ huy sẽ làm.” Lời nói đơn giản nhưng lạnh đến bu;ốt x;ương. Tôi nhìn cô: “Nếu cô giao tôi cho họ, tôi sẽ chết. Cô biết mà.” Cô không trả lời, nhưng ngón tay siết nhẹ trên cò. “Tôi cũng có gia đình, có mẹ, có em gái. Tôi không muốn ch;ết ở đây.” Cô cau mày: “Im đi, đừng nói nữa.” Nhưng giọng đã không còn sắc như lúc đầu…………………
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẨN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
Khi chúng tôi đi tiếp, tôi nhận ra dấu hiệu khu rừng từng có người đi qua – thân cây bị chặt ngang, dây leo bị dao chém. Tôi nói: “Nơi này nguy hiểm, có bẫy. Cô nên cẩn thận.” Cô nghi ngờ: “Sao mày biết?” “Tôi là trinh sát. Tôi không muốn cả hai đạp phải bẫy.” Cô nhìn quanh rồi gật: “Đi sau tao. Chậm là tao bắn.”
Chúng tôi đổi vị trí. Trời dần tối. Tôi nói: “Tối rồi, nên tìm chỗ trú. Ban đêm nguy hiểm lắm – thú dữ, bẫy. Cô muốn chết à?” Cô im rồi nói: “Được. Nhưng mày vẫn bị trói.” Tôi chỉ cô cách chọn nơi ngủ dưới gốc cây to, rải lá tránh ẩm, buộc dây báo động. Cô làm theo mà không cãi. Khi xong, cô trói tôi vào gốc cây nhưng để tôi tựa lưng để không quá đau. Cô ngồi đối diện cách hai mét, súng bên cạnh. Tôi hỏi lại tên cô. Lần này cô không né tránh. Cô nhìn tôi rồi nói khẽ: “Srey.” Tôi lặp lại. Cô không bảo tôi câm miệng, cũng không lạnh lùng như trước.
Đêm ấy dù quá mệt, tôi vẫn không sao ngủ được. Sợi dây trói quấn quanh cổ tay và mắt cá chân khiến máu khó lưu thông, bàn tay tê dại. Srey ngồi đối diện, lưng dựa nhẹ vào gốc cây, súng đặt ngang đùi, mắt không rời tôi quá lâu. Không gian chỉ có tiếng côn trùng, tiếng lá khô xào xạc, và đôi khi là tiếng chim lạ kêu đột ngột trong đêm tối khiến cả hai khẽ giật mình. Tôi nhìn qua và thấy cô ta cũng mệt – mí mắt sụp xuống rồi mở ra liên tục.
Tôi nói nhỏ: “Nếu cô ngủ gật, cả hai sẽ gặp nguy hiểm.” Cô cau mày: “Tao không ngủ đâu.” “Rừng ban đêm không giống ban ngày. Thú đi săn, rắn bò. Nếu cô không ngủ đúng cách, sẽ không nghe thấy chúng đến.” Cô liếc sang: “Mày tưởng tao không biết hả?” Tôi bình thản: “Cô biết nhiều thứ, nhưng không biết hết. Còn tôi, tôi được huấn luyện sống trong rừng nhiều năm.” Cô im lặng một lúc khá lâu rồi hỏi: “Ngủ đúng cách là sao?” “Ngủ thành nhiều đợt ngắn. Nghe nhiều hơn ngủ. Không ngủ sâu. Đổi tư thế để giữ máu lưu thông.” Cô nhìn tôi, ánh mắt giảm sự cảnh giác đi chút ít: “Mày nói vậy để tao tin mày à?” Tôi khẽ nhún vai: “Tin hay không tùy cô. Tôi cũng muốn sống đến sáng như cô thôi.”
Chúng tôi lại chìm trong im lặng. Gió rừng rít qua các tán cây, nghe như tiếng ai đang khóc than. Màn đêm đậm đặc đến mức chỉ cần quay mặt đi khỏi ánh lửa nhỏ phía chân, tôi không còn nhìn rõ mặt cô ta nữa. Khoảng nửa đêm, trời lại nổi gió mạnh, mây đen kéo ngang tán cây, tiếng lá xoay vòng trên cao. Tôi rùng mình vì lạnh, chiếc áo của tôi đã ướt từ mưa hôm trước, vết thương ở chân nhức và sưng, có dấu hiệu nhiễm trùng. Srey để ý: “Mày lạnh hả?” “Không sao đâu.” Cô đứng dậy nhặt thêm ít lá khô đốt thêm. Lửa bùng sáng hơn, ấm hơn. Hành động nhỏ đó – dù cô không nói thành ý tốt – vẫn khiến tôi bất ngờ. “Cảm ơn.” Cô quay mặt đi: “Tao không muốn mày chết trước khi giao cho chỉ huy.”
Một lúc sau, cô nhìn tôi rồi hỏi: “Nếu tao thả mày, mày có giết tao không?” Câu hỏi làm tôi bất ngờ. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô và nói: “Không.” “Sao tao phải tin?” “Nếu tôi định giết cô, tôi đã làm từ lúc cô ngủ gật mấy lần rồi.” Cô giật mình: “Tao không ngủ.” Tôi nhìn cô: “Khi cô nhắm mắt quá ba giây, đó là ngủ.” Cô bối rối quay đi, không nói gì thêm.
Gần về sáng, một âm thanh lớn đột ngột vọng đến – tiếng cành cây gãy, tiếng chạy của thứ gì đó nặng và mạnh. Srey bật dậy, súng lên nòng. Từ bụi rậm bên phải, một bóng đen lao vọt ra. Bản năng khiến tôi nghiêng người tránh dù bị trói. Srey nổ súng một phát, con vật kêu thét rồi chạy biến vào rừng. “Lợn rừng. May mà tao bắn kịp. Nó húc mày chết.” Tôi đáp: “Cả cô nữa.” Tiếng súng nổ làm chim chóc ở tán cây hoảng loạn bay lên. “Chúng ta không nên bắn. Tiếng súng có thể thu hút người khác.” Cô nghiến răng: “Nếu không bắn, mày chết rồi.” Tôi gật: “Tôi biết.”
Chỉ vài phút sau, tôi nghe tiếng bước chân rất xa. Lần này không phải thú – nhịp đều, có nhịp nghỉ, có thể là người. Srey cũng nhận ra. Chúng tôi nín thở. Tôi nói rất nhỏ: “Tiếng bước có nhịp, không phải thú – là người.” Cô giơ súng về hướng âm thanh: “Có bao nhiêu?” Tôi cố cảm nhận: “Hai, có thể ba.” “Nếu là quân cô, họ sẽ thấy dấu lửa. Nếu là quân tôi, họ sẽ thấy khói và nghe tiếng súng.” Cô hỏi: “Nếu là quân mày thì sao?” “Nếu là quân tôi, cô nên bỏ trói tôi và trốn. Hoặc chúng ta cả hai đều chết.” Cô mím môi, gương mặt suy tính rất nhanh. Tiếng bước chân dừng lại một lúc rồi chuyển hướng xa dần. Chúng tôi thở phào nhưng không dám thả lỏng hoàn toàn.
Bình minh đến, chúng tôi thu dọn. “Có thể nới lỏng dây một chút không? Tôi tê tay rồi.” Cô nhìn tôi vài giây rồi bước đến nới dây tay tôi một chút nhưng vẫn giữ chắc. Khi chuẩn bị rời chỗ trú, cô nói: “Đi thôi.” Tôi đứng dậy, chân đau nhói. Tôi nhìn lên mặt trời, nhìn hướng rêu và địa hình rồi nói: “Cô đang đi ngược hướng căn cứ của cô.” Cô dừng lại, quay sang nghi hoặc. “Mày nói bừa?” Tôi bình tĩnh: “Nếu đi hướng đó, cô sẽ đến vùng ngập nước và rừng le. Cô sẽ bị lạc thêm hai ngày nữa.” Cô nhìn tôi xoáy sâu: “Mày tưởng tao tin mày à?” “Tôi lợi gì khi dẫn cô đi xa hơn? Tôi bị thương, đi càng lâu tôi càng chết.” Cô im lặng suy nghĩ. Lần đầu tiên tôi thấy cô không phản ứng bằng lời mà bằng suy xét thật sự. Cuối cùng cô nói: “Mày đi trước, chỉ đường. Nhưng nhớ, sai một bước tao bắn.”
Tôi bước chậm dẫn đường theo cảm nhận của mình về hướng đông nam, về phía mà tôi đoán có làng hoặc lực lượng của cô ta. Nhưng trong lòng tôi biết, mỗi phút kéo dài thêm bên cạnh cô gái này là thêm một cơ hội để thay đổi số phận của cả hai. Cuộc hành trình của chúng tôi sang ngày thứ hai, và tôi nhận ra giữa tôi và cô đã có một thứ không còn giống như lúc mới gặp – không còn chỉ là kẻ bắt và tù binh.
Trong những ngày sau đó, chúng tôi cùng nhau vượt qua bẫy rừng, trốn tránh tuần tra của cả hai bên, chia nhau từng nắm cơm khô. Tôi kể cô nghe về quê tôi, về mẹ già và em gái. Cô kể tôi nghe về đứa em trai chết vì sốt rét không có thuốc, về ngôi làng bị đốt, về những điều cô bắt đầu thấy bằng mắt của chính mình – không còn qua lời tuyên truyền. Và tôi biết, cô đã thay đổi. Cô đã nhìn thấy sự thật.
Đến ngày thứ tư, chúng tôi đến gần khu vực căn cứ của cô. Srey dừng lại, nhìn về phía xa, rất lâu. Rồi cô quay sang tôi, lấy dao cắt dây trói. Tôi tự do. Tôi hỏi: “Cô đã quyết định rồi?” Cô nói: “Tao thả mày. Nhưng mày phải hứa một chuyện.” “Cô nói đi.” Cô nhìn thẳng vào mắt tôi: “Bảo vệ đứa bé. Đừng để nó chết như em tao.” Tôi đặt tay lên ngực: “Tôi hứa.” Cô nhìn về hướng đông – nơi căn cứ Khmer Đỏ đang chờ – rồi nói: “Tao sẽ không đi với mày. Tao sẽ quay lại rừng, tìm đường sang Thái hoặc lên phía bắc tìm người thân cũ. Nếu tao đi cùng mày, người của mày và người của tao đều muốn giết tao. Tao không thuộc về đâu nữa.” Tôi muốn nói điều gì đó, nhưng cô giơ tay ra hiệu đừng. “Cảm ơn vì mày không coi tao là quỷ.” Tôi đáp: “Cảm ơn cô vì đã không coi tôi là quái vật.”
Cô cúi xuống đứa bé – đứa trẻ mồ côi chúng tôi nhặt được trên đường – hôn nhẹ lên trán nó. Một giọt nước mắt rơi. Cô quay đi ngay như sợ nếu chậm thêm một giây, cô sẽ đổi ý. Trước khi bước vào bóng đêm, cô nói câu cuối: “Hòa, sống đi. Nếu tao nghe tin mày chết, tao sẽ tới địa ngục tìm mày để chửi.” Tôi cười: “Tôi sẽ sống để cô không phải xuống đó.”
Srey bước vào rừng, không tiếng lá động, không dấu vết. Cô đi như bóng của chính khu rừng, và rồi cô biến mất. Tôi đứng đó rất lâu, không biết bao nhiêu phút hay bao nhiêu giờ. Đêm ấy, tôi không ngủ. Tôi ôm đứa bé sát ngực, mắt nhìn hướng cô rời đi. Một người mà bốn ngày trước là kẻ thù, giờ rời đi như một người để lại trong tim tôi một khoảng trống không định nghĩa được. Tôi hiểu một điều sâu sắc: đôi khi để thắng một cuộc chiến, người ta không cần súng – mà cần một người dám tin vào điều đúng, ngay cả khi điều đó có thể khiến họ mất tất cả.
Tôi đưa đứa bé qua biên giới an toàn, nhờ một gia đình người Việt nhận nuôi. Tôi trở về đơn vị, báo cáo nhiệm vụ. Tôi không kể hết về Srey – chỉ nói tôi được một người dân Khmer thả. Nhưng trong lòng, tôi mang theo câu chuyện ấy suốt cuộc đời. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi lần nhắm mắt, tôi vẫn thấy bóng dáng cô gái ấy đứng bên bờ suối, súng trên tay, mắt nhìn tôi với ánh mắt không còn là kẻ thù. Tôi vẫn thấy giọt nước mắt của cô rơi trên trán đứa bé. Và tôi tự hỏi: cô ấy có đến được nơi cô muốn không? Cô ấy còn sống không?
Tôi không có câu trả lời. Nhưng tôi biết, có những người lính không bao giờ gặp lại nhau, nhưng câu chuyện của họ vẫn còn mãi – như một lời nhắc rằng ngay giữa chiến tranh khốc liệt nhất, lòng nhân vẫn có thể tìm thấy đường để thức dậy. Và đôi khi, để thắng một cuộc chiến, người ta không cần chiến thắng quân thù – mà cần chiến thắng được lòng hận thù trong chính mình.





