Con Gái Mỹ Tìm Được Mẹ Việt Sau 43 Năm Nhờ Một Tấm Ảnh – Cuộc Đoàn Tụ Khiến Ai Cũng Bật Khóc……
—
Tôi vừa quay ra xe lấy bộ quần áo, chỉ mất chưa đầy một phút. Khi tôi trở lại bên vệ đường, tấm khăn vẫn trải đó, đứa con một tuổi và đứa năm tuổi vẫn còn nằm, nhưng bé Thu Nga – con gái ba tuổi của tôi – đã biến mất. Tôi đứng sững, mắt nhìn quanh, người đông nghìn nghịt, xe cộ, bụi mù, tiếng khóc của trẻ con và tiếng người gọi nhau loạn xạ. Tôi hét lên: “Nga! Nga ơi!” Nhưng tiếng tôi bị nuốt trong biển người di tản hỗn loạn. Tôi tên là Mót, năm nay tôi đã ngoài bảy mươi, tóc bạc trắng, nhưng cảm giác giây phút mất con năm ấy vẫn còn như mới hôm qua. Nỗi đau đó không bao giờ nguôi ngoai, nó chỉ nằm im rồi bất chợt trỗi dậy mỗi đêm, mỗi khi tôi nhắm mắt.
Chuyện xảy ra vào tháng 3 năm 1975, khi chiến tranh tràn đến Tây Nguyên. Gia đình tôi có năm người con, nhưng vì không thể đưa hết đi, chúng tôi để hai con trai lớn nhờ họ hàng, chỉ dẫn theo ba đứa nhỏ. Chúng tôi đi xe men theo đường 7, xuống Khánh Hòa. Đến sông Đà Rằng, cầu bị gãy, cả đoàn xe phải nán lại vài ngày. Không nhà không cửa, lại thêm mấy đứa trẻ, chúng tôi sinh hoạt vô cùng bất tiện. Hôm ấy, chồng tôi xuống sông lấy nước, tôi trải khăn cho ba đứa nằm bên vệ đường rồi quay ra xe lấy đồ thay cho bé Nga. Khi tôi quay lại, đứa bé ba tuổi với mái tóc xoăn nhẹ đã không còn. Tôi gào lên. Chồng tôi từ dưới sông chạy lên, mặt cắt không còn giọt máu. Ông hỏi nó đâu, tôi nói tôi không biết, chỉ quay lưng có một phút. Cả hai chúng tôi chạy tìm khắp nơi, hỏi từng người, nhìn từng gương mặt, nhưng không ai thấy. Đến khi cầu thông, chúng tôi phải tiếp tục xuống Nha Trang. Nhưng hai ba ngày sau, chúng tôi lại quay trở lại cầu Đà Rằng, tìm kiếm, hỏi thăm, vẫn không một dấu vết.
Mất con, chồng tôi buồn đến đổ bệnh. Chúng tôi bán tất cả tài sản để lấy tiền đi tìm con. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ, sau khi bán hết, vợ chồng tôi chỉ còn lại cái tủ đứng và một tấm ảnh duy nhất của con gái. Chúng tôi ra vào các trại tị nạn, đi khắp nơi để tìm, nhưng biệt tăm. Chồng tôi phải giấu đi tấm ảnh đó, cố gắng không nghĩ đến con nữa để khỏi đau lòng. Chúng tôi động viên nhau, gắng gượng dậy, lo làm ăn nuôi các con. Rồi chiến tranh qua, chúng tôi trở về Kon Tum, khai hoang, lập nghiệp. Chúng tôi sinh thêm sáu người con nữa. Nhờ bàn tay chồng tôi, gia đình khá giả dần, mười người con đều được chia đất, sống đầm ấm, hòa thuận. Đại gia đình gần bốn mươi người, con cháu đông vui, nhưng trong lòng tôi lúc nào cũng có một khoảng trống. Đông con nhưng mất một đứa, tôi đau lắm. Lúc nào con cũng ở trong lòng mình, cứ nằm xuống là nghĩ về nó. Tôi không biết nó sống ra sao, nó ở đâu, nó có còn nhớ mẹ không. Hàng chục năm trôi qua, không một tin tức, nhưng tôi chưa bao giờ tin rằng con tôi đã chết. Tôi luôn nghĩ rằng thể nào rồi một ngày kia cũng sẽ tìm thấy con.
Có lần người ta mách ở Đà Nẵng có cô gái nhìn giống bé Thu Nga, chồng tôi liền bỏ hết công việc ra đó tìm, nhưng không phải. Ông ấy về nhà, ngồi thẫn thờ, chỉ nói với cô con gái Ngọc Mai rằng ông chỉ có một mong ước duy nhất là đưa Thu Nga về đoàn tụ cùng gia đình. Nhưng năm 2005, chồng tôi đã qua đời mà chưa kịp thực hiện được ước nguyện ấy. Ông mất khi lòng vẫn đầy tiếc nuối. Tôi thương ông lắm, thương cả đứa con gái đã mất. Chị Ngọc Mai, đứa con út của tôi, thương cha mẹ đau đáu, nhìn thấy chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” như một phao cứu sinh. Chị Mai đã gửi thư xin tìm chị gái chưa một lần gặp mặt. Nhưng thông tin quá ít ỏi: thất lạc năm 1975, một nốt ruồi trên vai hoặc cổ, tóc xoăn. Và tấm ảnh duy nhất của con tôi đã bị thất lạc từ lâu.
Ở một nơi khác, tại tiểu bang Iowa, Hoa Kỳ, chị Hàng Trúc Thảo – một người phụ nữ từng bị thất lạc năm 1975 – cũng viết thư gửi về chương trình. Theo lời mẹ nuôi kể, tháng 5 năm 1975, dòng người từ Tây Nguyên đổ xuống Nha Trang. Một chú bộ đội thấy một bé gái ba tuổi ngồi ven đường, tóc xoăn, khóc một mình, đã bồng cháu chạy vào trường tiểu học ở khóm Vĩnh Điềm. Có năm đứa trẻ thất lạc ở đó, cháu là nhỏ nhất. Bà Hàng Thị Tư – một phụ nữ độc thân – đến, cháu không theo những người khác mà chạy lại ôm bà. Bà thương, đưa về nuôi, đặt tên là Hàng Trúc Thảo. Chị Thảo sống với mẹ nuôi được mười năm. Đến năm chị 13 tuổi, mẹ nuôi qua đời vì bệnh nan y. Trước khi mất, bà kể lại mọi thông tin cho chị để sau này chị có thể tìm gia đình ruột thịt. Bơ vơ, chị sang Mỹ theo người thân của mẹ nuôi, nhưng thực tế lại dừng chân ở Philippines, mất bảy năm rưỡi trong trại tị nạn Parwan. Rồi chị hồi hương về Nha Trang, gặp chồng, kết hôn, sang Mỹ định cư, có hai con. Cuộc sống ổn định nhưng chị luôn khao khát biết về cội nguồn. Một đồng nghiệp khuyên chị gửi hồ sơ về chương trình: “Biết đâu ở một nơi nào đó mẹ cũng đang tìm con.” Chị gửi thư cùng một tấm ảnh hồi nhỏ – cô bé tóc xoăn, mắt đen, ngồi một mình.
Tháng 9 năm 2018, Ngọc Mai vào trang web “Hãy lên tiếng”, nhìn thấy bức ảnh cô bé ba tuổi tóc xoăn, bỗng dưng tim chị đập mạnh. Giống con gái chị quá, lại đúng thông tin chị đăng tìm. Chị Mai liên hệ với chương trình ngay. Họ gọi xin mẫu tóc của tôi để làm ADN. Những ngày chờ đợi, tôi không ăn, không ngủ. Tôi vừa mong vừa sợ. Rồi giữa tháng 9, chương trình gọi báo:………………………….Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
đã tìm được chị. Ngọc Mai kể tôi nghe mà tay chân bủn rủn, tôi bật khóc. Tôi không tin vào tai mình nữa. 43 năm. 43 năm trời tôi đi tìm con, và giờ người ta bảo con tôi còn sống.
Ngày đoàn tụ tháng 10 năm 2018, đại gia đình gần bảy mươi người tụ họp đông đủ. Tôi ngồi ở ghế giữa nhà, tay run, mắt nhìn về phía cửa. Khi chị Thảo từ ngoài sân bước vào, tôi thấy một người phụ nữ trạc ngoài bốn mươi, gương mặt ấm áp, nét giống chồng tôi ngày xưa. Tôi đứng bật dậy, chạy đến ôm lấy con. Tôi gào lên, nước mắt chảy không ngừng: “Con ơi, con đâu rồi? Con có nhận ra mẹ không?” Chị Thảo cũng khóc, vòng tay ghì chặt tôi. Hơn bốn mươi năm mong nhớ dồn cả vào cái ôm ấy. Mọi người xung quanh khóc theo. Chị Ngọc Mai chia sẻ: “Chị giống anh em chúng tôi lắm, tất cả đều như một khuôn mặt.” Tôi nhìn con, sờ má con, vuốt tóc con. Tôi không nói được gì, cứ khóc hoài. Đáng tiếc là chồng tôi không còn để chứng kiến giây phút này. Tôi thắp nén nhang, bảo con đến bên bàn thờ cha. Chị Thảo quỳ xuống, nghẹn ngào: “Con xin lỗi ba, con về muộn quá.” Tôi nhìn con trong bộ áo dài màu xanh, lòng vừa đau vừa vui.
Sau ngày đoàn tụ, chị Thảo phải về Mỹ xử lý công việc. Tết năm 2019, chị không thể về cùng gia đình, nhưng chị gửi lời chúc qua màn hình lớn, mặc áo dài cùng chồng và con gái. Tôi nhìn con qua màn hình, thấy con cười, lòng tôi ấm lại. Chị Mai cho tôi chiếc iPad – quà chị Thảo gửi tặng. Từ đó, trưa nào tôi cũng ngước nhìn đồng hồ, đúng 12 giờ là hai mẹ con FaceTime. Chị Thảo kết thúc ca làm ở Mỹ – 12 giờ đêm bên đó – lại gọi, hỏi tôi ăn gì, làm gì, gặp ai. Chúng tôi nói chuyện cả tiếng đồng hồ, như muốn bù cho 43 năm xa cách. Chị Thảo thương tôi, thường gửi sữa và thuốc bổ về. Tôi bảo con đừng gửi nhiều quá, tốn kém, nhưng con cứ gửi. Tháng 5 năm 2019, chị đón tôi sang Mỹ chơi. Tôi được con đưa đi thăm thú, chụp hình, nấu ăn cho tôi. Dù chân con đau, không đi được nhiều nơi, nhưng tôi chỉ cần được ở cạnh con là mãn nguyện. Ngày tôi về Việt Nam, tiễn mẹ ở sân bay, chị Thảo khóc, chồng chị khóc, hai đứa cháu ngoại cũng khóc. Tôi vỗ về con: “Mẹ về rồi qua thăm con nữa.” Nhưng lòng tôi xốn xang.
Giờ đây, ở cái tuổi ngoài bảy mươi, tôi vẫn sống một mình trong căn nhà nhỏ, các con ở dãy phố bên cạnh. Trưa nào tôi cũng đợi tiếng chuông Facetime. Tôi kể cho con nghe chuyện ở quê, con kể tôi chuyện ở Mỹ. Có những đêm tôi nằm, nhìn trần nhà, nhớ lại ngày hội ngộ, nhớ cái ôm của con sau 43 năm. Nỗi đau mất con đã dịu bớt, nhưng vẫn còn đó, như một vết sẹo sâu. Tôi thương chồng tôi, giá như ông còn sống để thấy con, để thấy điều kỳ diệu mà ông hằng mơ ước. Nhưng có lẽ ông biết. Ông đã gửi con về cho tôi từ nơi xa.
Người ta bảo lá rụng về cội. Sau 43 năm lạc lõng, chiếc lá nhỏ năm nào đã tìm về bên gốc cây già. Tôi không còn nhiều thời gian nữa, nhưng tôi mãn nguyện. Tôi đã được nhìn thấy con gái mình, được ôm con, được nghe con gọi “mẹ”. Khi tôi nhắm mắt, tôi sẽ ra đi nhẹ nhàng, vì tôi đã tìm thấy con. Chỉ tiếc là những năm tháng ấy, những đêm mưa tôi khóc một mình tìm con, chồng tôi ngồi thẫn thờ nhìn tấm ảnh cũ – tất cả đã qua. Nhưng nỗi đau đó, dù được chữa lành, sẽ không bao giờ hoàn toàn biến mất. Nó chỉ nằm yên, cùng tôi, cho đến hết đời.





