Theo Dõi Nhóm Nữ Pol Pot Bên Con Suối, Trinh Sát Việt Phát Hiện Bí Mật Đ;ộng Tr;ời…..

Theo Dõi Nhóm Nữ Pol Pot Bên Con Suối, Trinh Sát Việt Phát Hiện Bí Mật Đ;ộng Tr;ời…..
Tôi bò dưới đầm lầy cách chưa đầy 20 mét. Đám nữ binh Pôn Pốt đang tắm suối, nhóm lửa cười đùa như không có chiến tranh. Chúng không biết tử thần đã áp sát, nhưng thay vì nổ súng, tôi dừng lại. Vì thứ tôi thấy sau đó còn kinh hoàng hơn cả cái chết.
Tôi chưa bao giờ quên được cái buổi chiều định mệnh ấy. Khi chúng tôi luồn rừng trên đất Campuchia, đói mệt kiệt sức, một mùi khói lạ len vào cánh mũi – mùi khói ẩm ướt, pha chút gì đó như lá mục cháy dở, mùi gạo sôi hay nước suối nóng. Tôi ra hiệu cho tổ dừng lại. Cả bọn chui rút dưới tán lá rừng dày đặc, im lặng như những con thú rình mồi. Tôi là trung sĩ tổ trưởng, cùng tôi có Tân – xạ thủ bắn tỉa, Hải – chuyên gia mìn, và Hưng – cận chiến. Chúng tôi đã hành quân hai ngày qua rừng rậm sát biên giới theo dấu một toán Pôn Pốt nhỏ lẻ mới rút khỏi trận đụng độ gần suối Cà Răm.
Từ một gò đất cao nhìn xuống, qua đám cây rậm là một đoạn suối uốn lượn, nước xanh trong vắt. Nhưng điều khiến tôi nghẹn họng là cảnh tượng bên dưới. Khoảng tám người, toàn nữ, đang tắm suối. Họ không mặc quân phục, chỉ còn những mảnh vải nhỏ treo lủng lẳng trên cành cây. Cơ thể họ lấp ló sau bụi lau và nước, tiếng cười nói líu ríu vang lên giữa rừng, vô tư đến kỳ lạ. Nhưng chỉ cần nhìn kỹ, tôi nhận ra ngay không phải thường dân – áo rằn ri treo gần đó, lựu đạn, mũ vải và mấy khẩu AK dựng bên gốc cây. Đúng là một căn cứ giả chiến như chúng tôi nghi ngờ.
Tôi nuốt nước bọt, quay sang ra hiệu cho tổ. Tân huýt sáo rất nhỏ: “Địch đang không cảnh giác.” Hải lẩm bẩm trong bộ đàm: “Toàn con gái, tám đứa. Súng có AK, M16, không có đại liên.” Tôi gật. Đây có thể là một trung đội nữ binh của Pôn Pốt, thường làm hầu cần chuyển đạn gạo và truyền tin. Đáng lẽ tôi nên rút lui, quay về báo cáo, nhưng trong lòng tôi có một cảm giác khó tả. Một mặt, đây là cơ hội trời cho. Mặt khác, tôi chưa từng đối mặt với tình huống mà địch là những cô gái đang cười đùa dưới làn nước như thể không hề có chiến tranh. Tôi biết rõ nhiều đồng đội đã ngã xuống dưới tay những cô gái ấy.
Tôi mở bản đồ giấy, xác định vị trí. Dưới suối là thung lũng hẹp, bốn phía rừng rậm, một lối mòn dẫn ra phía bắc – rất có thể là đường tiếp tế. Tôi quyết định chia tổ ba hướng, chuẩn bị đánh úp khi trời chập tối. Thời gian còn chưa đầy một giờ. Tôi liếc xuống suối lần cuối, ánh mắt bắt gặp một cô gái Khmer đang ngước lên bầu trời, vốc nước lên mặt. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mắt cô chạm phải mắt mình, như thể cảm nhận có ai đó đang theo dõi. Tôi lập tức lùi xuống, nín thở. Không thể để một ánh mắt làm mềm lòng tôi. Chiến trường không có chỗ cho sự yếu lòng.
Dưới suối, họ vẫn vô tư. Một vài cô gái đùa giỡn hắt nước lên nhau, cười nói bằng tiếng Khmer. Tiếng cười ấy, thứ âm thanh tôi đã quên mất từ lâu trên chiến trường, giờ vang lên giữa rừng khiến tâm trí tôi chấn động. Hải thì thầm trong máy: “Trung, tao thấy súng xếp trên kệ tre gần bụi chuối.” Tôi đáp: “Đừng vội, còn chưa chắc cả nhóm, có thể còn bọn khác đang rình.”
Thời gian như đông lại. Mặt trời bắt đầu khuất sau rặng núi, kéo bóng rừng loang xuống như màn che âm u. Và rồi tôi thấy một chuyển động lạ. Cô gái Khmer ngồi sấy quần áo lặng lẽ rời khỏi bếp lửa, bước sâu vào rừng theo hướng bắc. Tay cô nắm một gói vải nhỏ. Tôi ra hiệu cho Hưng bám theo – gã đặc công khỏe như vượn, bám địch không tiếng động như bóng ma. Hưng chỉ nháy mắt rồi biến mất. Còn lại sáu người vẫn ở suối. Người cuối cùng tôi nhận ra là cô gái đã nhìn về phía tôi ban nãy, vẫn ngồi bên bờ suối, gập gối. Tôi thấy gió đổi hướng, mùi khói giờ rõ hơn, kèm theo mùi gạo xôi. Chết tiệt, chúng đang nấu cơm – nghĩa là không hề biết đến sự hiện diện của ta.
Tôi quay sang Tân ra hiệu: chuẩn bị tập kích khi trời tối hẳn, cố gắng bắt sống. Tân gật. Tôi nhìn xuống suối lần nữa. Cô gái bên bờ vẫn chưa mặc lại quần áo, chỉ cuốn tạm một tấm vải quanh người. Lúc đó cô lại ngẩng lên nhìn về hướng tôi lần thứ hai. Ánh mắt không phải sợ hãi mà là buồn, một nỗi buồn mơ hồ, như thể biết trận đánh sắp đến. Tôi chợt nghẹn nơi cổ họng. Gương mặt cô hiện rõ đôi mắt sâu đen láy, làn da xạm nắng và một nốt ruồi nhỏ ngay gần má trái. Không phải vẻ đẹp lộng lẫy, mà là dung mạo bình thường, chân thật – thứ tôi chưa từng thấy giữa chiến trường đã quen đầy máu và chết chóc.
Hải thì thầm: “Chuẩn bị chưa, Trung?” Tôi gật: “5 phút nữa, khi trời sập tối. Mục tiêu bắt sống. Nếu chống cự, tiêu diệt nhanh.” Đêm bắt đầu trùm xuống khu rừng. Tôi đặt tay lên báng súng, tim đập chậm rãi. Chỉ một chút nữa thôi, chúng tôi sẽ đánh úp, và những cô gái Khmer dưới suối kia sẽ không còn cười được nữa.
Mặt trời đã tắt hẳn, bóng tối như tấm màn dày phủ trùm. Tố nữ binh Pôn Pốt đã bắt đầu lui về phía bếp. Tôi ra hiệu bằng tay. Giờ hành động đã đến. Chúng tôi chia ba mũi: Hải vòng trái, Tân chiếm cao điểm, tôi và Hưng mũi chính đánh thẳng. Đồng hồ chỉ 18:15. Chúng tôi lao ra. Tôi hô lớn bằng tiếng Khmer: “Đứng yên, bỏ vũ khí xuống!” Một cô gái kịp vớ lấy khẩu súng, rồi ngã gục – Tân đã nổ phát súng đầu tiên. Cô ta trúng vai, ngã sõng xoài vào gốc cây. Hưng vật ngã một nữ binh khác. Tôi quát: “Đừng chống cự, ai bỏ vũ khí sẽ được tha mạng!” Tiếng la hét hỗn loạn trong 30 giây, rồi tất cả dừng lại. Chúng tôi bắt sống được hai nữ binh không chống cự, ba người bị thương nhẹ, một người bị ngất. Còn Hly vẫn chưa rõ tung tích.
Tôi nhìn quanh, gọi nhỏ trong máy: “Hưng, báo cáo đường rút của địch.” Không trả lời. Tôi quay sang Hải:……………………….
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
“Giữ tù binh, Tân cảnh giới, tao đi tìm Hưng.” Tôi lao vào lối mòn nhỏ dẫn vào rừng – con đường Hly đã đi. Lòng rừng tối như hũ nút. Tôi gọi khẽ trong máy, chỉ tiếng rè rè của tĩnh lặng. Rồi một tiếng keng rất nhỏ phía trước – kim loại chạm đá. Tôi dừng sững, ép người xuống. Dưới ánh trăng nhạt, tôi thấy Hưng nằm sát đất, một tay bị chói quặt ra sau, miệng bịt rẻ, máu rỉ từ thái dương. Cách Hưng độ 2 mét là Hly – cô gái Khmer nhỏ thó đang kê khẩu súng sát trán anh. Phía sau cô ta còn một gã Pôn Pốt khác. Vậy là không chỉ tám nữ binh – có quân áp tại khổ đường. Cái ổ chúng tôi vừa đánh chỉ là tiền tiêu. Hưng chớp mắt ba cái – tín hiệu: địch hai, tôi bị khống chế, còn sống. Tôi bóp chặt báng dao găm. Khoảng cách 15 mét. Súng nổ sẽ gây động cả rừng. Nhưng nếu chần chừ, cái búng cò nhẹ của Hly đủ tiễn Hưng về đơn vị.
Tôi tháo chốt an toàn lựu đạn khói, đặt nhẹ nhàng. Chỉ cần hai giây che tầm. Tôi lấy đá ném sang trái. Gã AK xoay người, đèn pin quét theo. Ngay khoảnh khắc đó, tôi giật kíp lựu đạn khói, ném vút. Khói trắng xám bùng lên, nuốt cả khoảng trống. Tôi lao thẳng. Trong làn khói cay xè, tôi cắm phập vào gã AK trước, khóa tay, bẻ quặt ra sau – rắc một tiếng. Hưng đã lăn ra. Hly thả súng. Tôi đá văng khẩu súng khỏi tay cô, dí mũi dao sát tay: “Im, tiếng súng thêm một phát là cả khu rừng thành địa ngục.” Cô gái run lẩy bẩy, nước mắt ràn ràn nhưng ngừng vùng.
Chúng tôi quay lại bờ suối. Tân đã tụt xuống, Hải chói chặt bốn nữ binh còn lại. Tôi ra lệnh: “Đáng ngờ có trung đội địch, không ở lại được. Kiểm tra thương binh, rút tuyến nam.” Tôi cúi xuống kiểm tra người nữ binh bị Tân bắn trúng vai – Sô Khăn. Tôi xé áo băng ép vết thương. Cô cắn môi không kêu. Ánh nhìn ấy là lần thứ ba chạm mắt tôi. Tôi thì thầm tiếng Khmer: “Đừng cố cắn răng chịu, máu mất nhanh đấy.” Cô sững người, rồi quay mặt im lặng.
Chúng tôi rút về khe suối cạn. Sô Khăn đã lờ đờ, môi tím. Tôi mở túi cứu thương, cởi áo khoác quấn cô. Cô lói tiếng Khmer: “Các người giả nhân đạo rồi cũng thế thôi.” Tôi đáp trầm: “Tôi không bắn ai không chống cự. Nếu cô muốn sống, ngậm miệng.” Đêm đó, Sô Khăn mở mắt, thều thào: “Đừng đưa tôi cho chỉ huy các anh. Tôi biết đường đi trạm. Có căn cứ ngầm, có trại huấn luyện trẻ em, có tên Mao Trăng thích dùng dao.” Tôi đặt ngón tay lên môi cô ra hiệu im. Tôi nhìn đêm. Đêm mới chỉ bắt đầu.
Sáng hôm sau, bộ đàm vang lên khẩn: “Chúng tôi bị tập kích, cần chi viện gấp!” Tôi bật dậy, bấm máy: “Giữ vững, tao sẽ tới.” Tôi quay sang Hưng, anh lặng lẽ đứng dậy siết quai súng. Tôi quay sang trạm y tế: “Chúng tôi để lại hai tù binh. Cảnh giới kỹ.” Và chúng tôi lao thẳng vào rừng. Gần đến nơi, từ bụi tre cao, tôi nhìn xuống: địa ngục. Đám Pôn Pốt khoảng hai tiểu đội bao vây đội của Tân từ ba phía. Tôi quay sang Hưng: “Tao vòng trái, mày lên cây gạo. Khi tao nổ phát đầu tiên, mày rải đạn.” Tôi trườn dưới lớp lá mục. Khi chỉ còn cách 20 mét, tôi nổ súng. Hưng từ trên cao rải CKC như mưa dông. Địch bất ngờ, hoảng loạn. Chưa đầy 10 phút, chúng tôi lật thế cờ. Trên đường rút, trời đổ mưa. Tôi nhìn đám nữ binh bị chói – không còn đanh đá, chỉ còn sự im lặng cam chịu.
Về trạm, tôi vào lán y tế. Sô Khăn mở mắt khi tôi đặt tay lên vai: “Anh về rồi.” Tôi gật. Cô nói: “Tôi từng nghĩ lính Việt là ác quỷ. Nhưng anh không giống thế.” Đêm đó, Sô Khăn và Hly xin đi cùng đội đột kích căn cứ Beng Chờ Ma. Hly nói: “Tôi muốn gặp lại Mao Trăng. Dù chết.”
Chiến dịch diễn ra ba đêm sau. Chúng tôi xâm nhập qua giếng nước ngụy trang, vượt ba tầng hầm. Tôi đối mặt với Mao Trăng. Hắn gào: “Tụi bay là đồ chó Việt!” Tôi dán một cú báng súng vào mặt hắn: “Đêm nay tao kết thúc mày.” Và tôi siết cò. Trận đột kích kết thúc sau 40 phút. Chúng tôi bắt sống bảy tên, thu hai tấn vũ khí và chứng cứ tội ác chiến tranh.
Sáng hôm sau, Sô Khăn và Hly ngồi cạnh tôi dưới ánh mặt trời. Hly nói: “Cảm ơn vì cho tôi được kết thúc nó theo cách này.” Tôi không biết ngày mai ra sao, nhưng tôi biết đêm nay tôi đã kéo được vài linh hồn ra khỏi bóng tối. Khi xe chuyển quân lăn bánh, tôi quay nhìn lại. Sô Khăn và Hly đứng bên vệ rừng, giơ tay chào. Tôi không biết có bao giờ gặp lại họ không, nhưng có lẽ nếu mai này yên bình, họ sẽ là người đứng giữa ranh giới để nhắc rằng máu không phải là định mệnh. Tôi vẫn mang súng, mang lệnh hành quân, nhưng kể từ cái đêm tôi đưa Sô Khăn ra khỏi suối, tôi biết mình đã làm được điều quan trọng nhất: giữ lại phần người trong lửa đạn.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!