Cựu Lính Mỹ Khóc Nghẹn Ngày Đoàn Tụ Con Gái Việt: “Nếu Biết Có Con, Cha Đã Ở Lại Việt Nam”…..

Cựu Lính Mỹ Khóc Nghẹn Ngày Đoàn Tụ Con Gái Việt: “Nếu Biết Có Con, Cha Đã Ở Lại Việt Nam”…..
Gần 50 năm tôi cứ đau đáu một câu hỏi: “Cha tôi là ai?” Tôi tên là Trần Thị Thu, làm nghề mua bán ve chai ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Đi đến nửa đời người, cứ ngỡ câu hỏi này sẽ mãi không có lời giải đáp, thì trong một lần tình cờ, tôi đã được một nhóm người tốt bụng giúp đỡ và tìm được cha ở Mỹ. Tôi vẫn nhớ như in cái ngày tôi nhận được cuộc gọi từ ông Jimmy Miller, người sáng lập Hội tình lai không biên giới. Ông nói: “Chúng tôi đã tìm thấy cha của cô.” Tôi chừng như rớt tim. Không tin nổi. Tôi hỏi: “Thiệt hả ông? Cha tôi còn sống?” Và khi ông trả lời “Còn”, tôi đã khóc. Khóc vì vui, vì tủi, vì hơn 50 năm mỏi mòn chờ đợi cuối cùng cũng có kết quả.
Tuổi thơ của tôi không hề dễ dàng. Tôi sinh năm 1967, là kết quả của mối tình giữa mẹ tôi, bà Phan Thị Việt Hồng, một cô gái Huế, và ông Ky Rockwood, một quân nhân Mỹ. Họ quen nhau vào mùa Noel năm 1966 tại An Cựu, Huế. Ông làm nhiệm vụ tiếp tế trên tàu số IFU 70 thuộc đơn vị tàu đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ. Mẹ tôi kể, họ chỉ có một thời gian ngắn bên nhau, rồi ông phải về Mỹ. Lúc đó mẹ tôi mang thai, nhưng bà không nói với ông. Tôi không hiểu vì sao mẹ không nói. Có lẽ vì chiến tranh, vì sợ hãi, vì bà không biết tương lai sẽ ra sao. Khi tôi chào đời, mẹ đã đổi tên tôi từ Phan Thị Tuyết Thu thành Trần Thị Thu, và đổi cả năm sinh thành 1965. Tôi không biết tại sao mẹ làm vậy, nhưng tôi đoán bà muốn che giấu thân phận của tôi, muốn tôi tránh khỏi sự kỳ thị của xã hội lúc bấy giờ.
Nhưng có trốn tránh thế nào thì tôi vẫn là con lai. Vẻ ngoài khác biệt khiến tôi bị người đời dè bỉu. Tôi không được học hành đến nơi đến chốn. Tuổi thơ tôi trôi qua trong đói khổ và tủi nhục. Mẹ tôi, vì mang quá nhiều nỗi niềm trắc ẩn, đã tìm đến nương nhờ cửa Phật. Từ đó, tôi như một đứa trẻ mồ côi, không cha, không mẹ. Tôi phải tự lo cho bản thân từ rất sớm. Có những lúc cuộc sống bế tắc, tôi phải qua tận Trung Quốc làm thuê. Rồi tôi lấy chồng, có con, nhưng cuộc sống vẫn chật vật. Giờ đây, tôi sống bằng nghề mua bán ve chai, ở một vùng quê hẻo lánh ở Bình Phước. Tôi nghĩ suốt đời mình sẽ chẳng bao giờ tìm được cha. Những giấy tờ chứng minh thân phận con lai, mẹ tôi đã đốt sạch. Tôi không có gì ngoài một câu chuyện mơ hồ và một niềm tin mong manh.
Rồi năm 2018, tôi gặp được một thành viên trong nhóm Hội tình lai không biên giới (AWB). Có lẽ vì vẻ ngoài của tôi rất Tây, người ta đề nghị tôi thử ADN. Tôi không biết ADN là gì. Tôi còn phân vân vì làm gì có tiền. Nhưng người ta nói thử miễn phí, thế là tôi đồng ý. Tôi gửi mẫu ADN đi, thầm cầu trời Phật cho mình tìm được cha. Nhưng nói thiệt là tôi không có hy vọng gì hết. Một thời gian sau, kết quả cho thấy tôi đúng là con lai. Hội AWB bắt tay vào tìm kiếm. Và họ đã tìm thấy ông Ky Rockwood ở Massachusetts, Mỹ, bằng cách so sánh ADN của tôi với dữ liệu ông đã gửi cho Ancestry.
Khi người ta thông báo với ông Rockwood rằng ông có một người con gái ở Việt Nam, ông rất ngạc nhiên nhưng không bị sốc. Ông nói: “Tôi từng có linh cảm trong nhiều năm qua rằng đó là một khả năng.” Ông đã thử ADN từ 5 năm trước để tìm gia phả, nhưng không ngờ kết quả lại kết nối ông với tôi. Ông rất vui, và nhờ sự hỗ trợ của AWB, ông bắt đầu làm thủ tục để nhận tôi. Qua điện thoại, câu nói đầu tiên của ông dành cho tôi – qua người thông dịch – là: “Chúa ơi, con gái yêu quý của tôi.” Tôi không kìm được nước mắt. Tôi hỏi ông: “Bao nhiêu năm nay cha không tìm con?” Ông trả lời rằng ông đã suy nghĩ rất nhiều về lần cuối cùng gặp mẹ tôi, nhưng ông không biết bà có thai. Ông nói: “Nếu biết có con trên đời, cha sẽ ở lại Việt Nam.” Câu nói đó khiến tôi vỡ òa.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẨN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Tôi không thể tin được rằng mình đã tìm được cha. Hơn 50 năm mỏi mòn, tôi tưởng mình sẽ không bao giờ có câu trả lời. Nhưng giờ đây, ông Rockwood đang nóng lòng được gặp tôi. Ông nói rằng nếu tôi muốn đến Mỹ và mang theo gia đình, ông sẵn sàng chào đón. Ông đang xúc tiến các thủ tục cần thiết để điều đó diễn ra nhanh hơn. Ông còn nói rằng chỗ ông ở mùa đông có tuyết rất lạnh, nhưng tôi chỉ nghĩ: “Được gặp cha, dù ở nơi đâu, cuộc đời cũng cảm thấy ấm áp.” Thế nhưng kế hoạch về Việt Nam của cha vào năm 2020 đã bị hoãn vì đại dịch COVID-19. Lúc đó cả hai cha con đều mong virus biến mất nhanh chóng để chúng tôi có thể gặp nhau. Tôi không biết khi nào mình sẽ được sang Mỹ, nhưng tôi biết rằng một ngày không xa, tôi sẽ được ôm cha trong vòng tay.
Câu chuyện của tôi không phải là câu chuyện duy nhất. Có những người con lai khác cũng đã tìm được cha nhờ AWB. Một trong số đó là anh Trần Quang Hùng. Câu chuyện của anh còn nhiều cay đắng hơn. Mẹ anh gặp cha anh, một quân nhân Mỹ, vào khoảng năm 1971 ở Quảng Ngãi. Bà nhận giặt quần áo cho quân nhân tại căn cứ Mỹ, và cha anh thích bà vì tính tình thật thà và nấu ăn ngon. Họ yêu nhau, nhưng đến năm 1972 cha anh hết hạn lính và về Mỹ. Ông muốn đưa mẹ anh đi, nhưng mẹ thương bà ngoại nên không đi. Bà cũng không biết mình đang mang thai. Thế là anh Hùng sinh ra, và lớn lên trong nghèo khó.
Từ nhỏ, anh Hùng đã phải cùng mẹ xin ở nhờ, làm thuê, cắt lúa, trồng khoai, chăn bò, chăn vịt. Những đứa trẻ con lai thời đó luôn bị kỳ thị. Năm 17 tuổi, vì nghe theo lời hàng xóm, anh vào Bình Thuận để tìm cơ hội, nhưng người ta đã bán anh cho một gia đình làm con nuôi. Anh phải làm đủ việc vất vả: cuốc mướn, đốt than, rồi lại bị bán cho một gia đình khác ở Sài Gòn. Những người mua anh đều hy vọng có thể làm hồ sơ con lai để sang Mỹ, nhưng khi chính phủ Mỹ siết lại các yêu cầu xác định con lai, họ không đủ bằng chứng, và anh bị đẩy ra ngoài. Anh lang bạt, bán cơm, chạy bàn, phục vụ quán nhậu, chăm sóc vườn – bất cứ việc gì có thể sống qua ngày. Anh mong gom góp được tiền về thăm mẹ, nhưng năm 1997, mẹ anh mất. Anh kể: “Tôi nghĩ cuộc đời mình đã chấm hết.”
Rồi năm 2000, anh Hùng may mắn gặp được người phụ nữ tốt bụng và kết hôn. Và rồi anh tìm đến AWB. Năm 2018, mẫu ADN được gửi đi, và một thời gian ngắn sau, họ tìm được cha anh – cựu binh William Martin Hiden ở Arizona. Họ còn tìm ra người em ruột của anh. Người em từ Colorado gọi cho cha và hai cha con đã nói chuyện qua video. Anh Hùng nhớ lại: “Ba gọi tôi, nghẹn ngào: ‘Con trai, con trai. Sorry, sorry.’ Chúng tôi nhìn nhau, khóc rất nhiều.” Tháng 5 năm 2019, gia đình cha anh từ Mỹ về Việt Nam, họ ôm nhau tại sân bay Tân Sơn Nhất. Cha anh nói rằng ông rất thương yêu người Việt Nam và yêu mẹ anh vì tính cách mộc mạc. Mẹ kế của anh cũng tốt bụng, luôn gọi anh là “con trai quý của tôi”. Sau 47 năm, người lính Mỹ đã gặp được đứa con trai của mình. Ngày 30 tháng 10 năm 2019, cả gia đình anh Hùng lên đường sang Mỹ định cư.
Tôi nghe câu chuyện của anh Hùng và tôi thấy mình thật may mắn. Tôi cũng như anh – đã sống trong vô vọng suốt bao nhiêu năm. Nhưng tôi cũng biết rằng còn rất nhiều người con lai khác vẫn đang ở Việt Nam, vẫn đang mòn mỏi tìm cha. Ông Jimmy Miller, người sáng lập AWB, đã nói một điều khiến tôi suy nghĩ: “Chiến tranh Việt Nam chấm dứt 45 năm rồi, cùng với sự tàn thương, chết chóc và chia ly. Nhưng đây là câu chuyện có kết cục đẹp, chúng ta nên chia sẻ câu chuyện đẹp cho thế giới biết.” Ông cũng kêu gọi chính phủ Mỹ làm nhiều hơn để đưa những người con lai về nước, bởi vì họ vẫn đang còn sống và đang chờ đợi.
Giờ đây, tôi đã tìm được cha. Tôi biết tôi có một gia đình ở Mỹ. Tôi sẽ không phải sống với câu hỏi “cha tôi là ai” nữa. Nhưng tôi không thể quên những năm tháng khổ cực, những lần bị kỳ thị, những đêm khóc một mình vì tủi nhục. Tôi không thể quên mẹ tôi, người đã phải đổi tên tôi để che giấu thân phận, và rồi tìm đến cửa Phật để trốn tránh nỗi đau. Tôi không thể quên những người con lai khác vẫn đang sống trong bóng tối, vẫn đang đau đáu câu hỏi mà tôi đã từng đau đáu. Tôi nghĩ về anh Hùng, về những người như tôi, và tôi tự hỏi: liệu có bao giờ tất cả chúng tôi được bù đắp cho những mất mát? Nhưng tôi biết, dù không bao giờ có thể bù đắp được những năm tháng đã mất, thì việc tìm thấy cha vẫn là một phép màu, một món quà mà tôi sẽ trân trọng suốt đời. Và dù bây giờ tôi chỉ có thể gọi ông qua điện thoại, dù tôi chưa được ôm ông, nhưng tôi đã có câu trả lời. Tôi đã có cha. Điều đó là đủ để tôi tiếp tục bước tiếp.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!