Cậu Bé Mồ Côi Việt Trở Thành Phó Thủ Tướng Trẻ Nhất Nước Đức, Cả Thế Giới Kinh Ngạc…..

Cậu Bé Mồ Côi Việt Trở Thành Phó Thủ Tướng Trẻ Nhất Nước Đức, Cả Thế Giới Kinh Ngạc…..
Tôi không biết tên thật của mình là gì. Tôi không biết cha mẹ tôi là ai, họ trông như thế nào, hay tại sao họ lại bỏ tôi lại. Tôi chỉ biết rằng một ngày nào đó, khi tôi vừa mới chào đời, người ta phát hiện tôi trong một thùng rác ở Khánh Hưng, Sóc Trăng. Một đứa trẻ sơ sinh, không tên, không tuổi, không một mảnh giấy nào ghi lại lai lịch của mình. Tôi được người dân mang vào một tu viện Công giáo, và các sơ đã nhận nuôi tôi. Họ đặt cho tôi một cái tên tạm, và tôi lớn lên trong vòng tay của những người phụ nữ áo trắng, những người đã chăm sóc hàng ngàn đứa trẻ mồ côi khác. Tôi không biết rằng số phận đang chuẩn bị cho tôi một hành trình mà không ai có thể tưởng tượng nổi.
Khi tôi được 9 tháng tuổi, một cặp vợ chồng người Đức đến Việt Nam và nhìn thấy tôi. Cha nuôi của tôi là một cựu binh quân đội Đức. Ông đã từng chứng kiến những ảnh hưởng tàn khốc của chiến tranh Việt Nam, và ông cảm thấy mình phải làm điều gì đó để giúp đỡ những đứa trẻ mất cha mẹ. Ông có hai lựa chọn: xuống đường biểu tình, hoặc giúp đỡ một cách thiết thực nhất. Ông đã chọn cách thứ hai – nhận một đứa trẻ mồ côi Việt Nam về nuôi. Đó là tôi. Tôi được đưa về Hamburg, miền Bắc nước Đức, và được đặt tên là Philip Rösler. Tôi bắt đầu một cuộc đời mới, với cha mẹ nuôi và hai cô chị gái. Nhưng rồi khi tôi lên bốn tuổi, cha mẹ nuôi ly dị. Tôi ở với cha nuôi, và chúng tôi chuyển đến sống ở thành phố Hanover.
Tôi lớn lên với một người cha tuy không cùng màu da, không cùng dòng máu, nhưng lại là người cha tuyệt vời nhất mà tôi có thể ước mơ. Tôi nhớ mãi một khoảnh khắc khi tôi sáu tuổi. Cha tôi đưa tôi ra đứng trước gương, cạnh ông. Ông nói: “Con và cha trông khác nhau, từ mắt đến mũi. Nhưng cha không quan tâm đến chuyện đó. Cha chỉ cần con biết rằng cha là bố của con. Vậy là đủ.” Câu nói đó đã theo tôi suốt cuộc đời. Cha tôi dạy tôi ba nguyên tắc quý giá: tự do, cởi mở và khoan dung. Từ những nguyên tắc đó, tôi lớn lên và mang trong mình lý tưởng sống cao đẹp, luôn phấn đấu để đạt được những ước mơ của mình. Cha tôi là một người lính, và tôi cũng muốn trở thành một người lính. Tôi muốn nối nghiệp cha, muốn phục vụ đất nước đã cưu mang tôi.
Tôi học giỏi. Tôi được bầu làm phát ngôn viên của trường trung học. Năm 1992, tôi tốt nghiệp với bằng hạng A và gia nhập quân đội Đức. Nhưng tôi không chỉ muốn là một người lính. Tôi muốn chữa lành, muốn cứu sống người khác. Tôi học đại học y khoa ở Hanover và năm 2002, ở tuổi 29, tôi hoàn thành học vị tiến sĩ nhãn khoa. Trước khi trở thành chính trị gia, tôi là một bác sĩ phẫu thuật tim và lồng ngực. Tôi đã cứu sống nhiều người bằng bàn tay của mình, nhưng tôi sớm nhận ra rằng tôi có thể cứu sống nhiều người hơn nếu tôi tham gia vào chính trị.
Tôi tham gia hoạt động chính trị từ rất sớm, năm 1992, khi mới 19 tuổi, tôi gia nhập Đảng Dân chủ Tự do (FDP). Nhưng chỉ đến những năm 2000, tôi mới thực sự tập trung vào sự nghiệp chính trị. Và tôi đã làm được những điều phi thường. Năm 2009, tôi trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế trẻ nhất trong lịch sử nước Đức. Năm 2011, tôi được bầu làm Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Công nghệ Đức. Tôi là người gốc nước ngoài đầu tiên tại Đức nắm giữ cương vị này. Tôi là một đứa trẻ bị bỏ rơi trong thùng rác ở Sóc Trăng, và bây giờ tôi đang đứng ở vị trí quyền lực nhất của một trong những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Có những người dự đoán rằng tôi sẽ còn tiến xa hơn nữa, thậm chí có người hy vọng tôi sẽ trở thành Thủ tướng gốc Á đầu tiên của nước Đức. Nhưng tôi luôn giữ quan điểm của mình. Tôi đã nói rằng tôi sẽ từ giã sự nghiệp chính trị vào năm tôi 45 tuổi. Tôi cho rằng chính trị làm thay đổi con người, và tôi không muốn con người mình thay đổi theo xu hướng đó.
Vào năm 2013, tôi tuyên bố chính thức từ bỏ các hoạt động chính trị. Tôi rời cương vị Phó Thủ tướng Đức và trở thành Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Geneva, Thụy Sĩ. Đến năm 2017, tôi trở thành cố vấn đầu tư cho các doanh nghiệp trên khắp thế giới, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam. Tôi đã đi một vòng tròn đầy đủ: từ Việt Nam đến Đức, từ Đức đến Thụy Sĩ, và bây giờ, trở lại Việt Nam.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Tôi trở lại Việt Nam lần đầu tiên khi tôi 33 tuổi. Tôi không có ký ức rõ nét về đất nước này. Tôi chỉ biết rằng tôi đã sinh ra ở đây. Tôi trở lại vì vợ tôi nói: “Chúng ta rồi sẽ có con, và em muốn có thể kể cho chúng nghe về đất nước nơi anh đã sinh ra.” Chúng tôi đã cố gắng tìm Khánh Hưng, nhưng không thể tìm thấy nó trên bản đồ Việt Nam hiện đại. Thật may mắn, trong một lần tham quan Dinh Độc Lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi tình cờ phát hiện một tấm bản đồ cũ có ghi địa danh Khánh Hưng. Nhờ đó, tôi đã tìm lại được cô nhi viện nơi tôi từng được chăm sóc. Khi tôi nắm tay các sơ, tôi cảm thấy rất ấm áp. Họ đã từng nuôi dạy tôi trong quá khứ. Họ đã từng nuôi dạy 3.000 đứa trẻ mồ côi khác tại nơi này. Có thể không phải ai trong số đó cũng trở thành Bộ trưởng, nhưng họ đều biết ơn các sơ như tôi. Các sơ đã chăm sóc tôi mà không hề nghĩ đến chuyện sau này tôi sẽ trở thành ai. Tình yêu của họ rất giản dị – đó là tình yêu của người mẹ dành cho những đứa con của mình.
Định mệnh đã đợi gần 50 năm để đưa tôi trở lại cô nhi viện, lúc nó cần sự trợ giúp nhất. Tôi tin rằng sứ mệnh của tôi là phải vun đắp cho nơi đây. Trong bữa tiệc sinh nhật muộn đón tuổi 50 ở Đức, tôi đã kêu gọi những khách mời – các chính khách nổi tiếng, bạn bè thân thiết – quyên góp cho cô nhi viện đã cưu mang tôi, thay cho những món quà vật chất. Hơn 50 vị khách đã đến thành phố Hanover để cùng tôi chúc mừng sinh nhật. Họ là các lãnh đạo, cựu lãnh đạo cấp cao, các chính khách nổi tiếng, trong đó có Bộ trưởng Tài chính Đức Christian Lindner và cựu Thủ tướng Áo Sebastian Kurz. Bữa tiệc thực sự là một đêm dành cho Việt Nam.
Khi tôi gặp gỡ các em nhỏ mồ côi tại quê hương, tôi nhớ lại bản thân mình cũng từng trong hoàn cảnh tương tự. Sự háo hức, thích thú cùng nụ cười ngây thơ của các em khi nhận những phần quà Tết đã thôi thúc tôi hành động để giúp đỡ những đứa trẻ kém may mắn này. Dần dần, sứ mệnh ấy đã trở thành trách nhiệm, một lời cam kết sẽ đóng góp cho sự phát triển của quê hương. Tôi nói: “Tôi quyết định đây là số phận của mình. Số phận của tôi là phải hỗ trợ người dân nơi đây. Tôi đã từng có cơ hội đổi đời, và bây giờ cơ hội đó là của 100 triệu người dân tại Việt Nam.”
Khi tôi còn nhỏ, tôi không có chút nghi ngờ gì về gốc gác của mình. Tôi là một cậu bé Đức, lớn lên ở Hanover. Nhưng giờ đây, khi càng được tiếp xúc nhiều hơn với Việt Nam, tôi nhận ra rằng Việt Nam cũng là một phần trong tôi. Tôi cần phải có trách nhiệm với đất nước này. Tôi đã dành quãng thời gian tuổi trẻ của mình để trả ơn cho nước Đức, nơi nuôi dạy tôi khôn lớn, bằng việc phục vụ trong quân đội và tham gia bộ máy chính quyền. Và bây giờ là lúc tôi phụng sự cho Việt Nam.
Năm 2019, sau 13 năm kể từ lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất hình chữ S, tôi nhận lời mời và trở về Việt Nam với vai trò Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Quỹ Đầu tư VinaCapital Ventures, chuyên đầu tư vào công nghệ và các doanh nghiệp khởi nghiệp. Tôi đã tham gia nhiều hoạt động khuyến khích và chia sẻ với thế hệ trẻ Việt, hỗ trợ họ hiểu rõ hơn về cách kích thích tăng trưởng kinh tế và tham gia vào phong trào khởi nghiệp. Tôi dùng từ “trở về” để mô tả Việt Nam – như là nguồn cội, vùng đất mẹ đã sinh ra tôi. Tôi mong muốn thực hiện sứ mệnh của mình: đưa Việt Nam ra thế giới, đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ.
Tôi vẫn không biết cha mẹ ruột của mình là ai. Tôi có thể đã đi ngang qua họ trên đường phố mà không hề biết. Nhưng tôi không oán giận họ. Tôi không biết họ đã trải qua những gì để phải bỏ tôi lại trong thùng rác. Có lẽ họ nghèo khổ, có lẽ họ tuyệt vọng, có lẽ họ không còn lựa chọn nào khác. Tôi chỉ biết rằng số phận đã mở ra một con đường khác cho tôi. Tôi đã có một gia đình tuyệt vời ở Đức, một sự nghiệp mà tôi tự hào, và bây giờ, một sứ mệnh để trả ơn cho quê hương. Tôi không biết liệu tôi có bao giờ tìm thấy cha mẹ ruột của mình không, nhưng tôi biết rằng tôi đã tìm thấy một gia đình khác – gia đình của những người đã cưu mang tôi, của đất nước đã nuôi dưỡng tôi, và của Việt Nam, nơi tôi đã trở về để cống hiến. Và có lẽ, đó là tất cả những gì tôi cần.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!