Đứa trẻ 8 tuổi ở Nghệ An năm 1867: lễ phép, ngoan ngoãn, nhưng mỗi lần nó xuất hiện lại có người c;h;ế;t bí ẩn…………
……………………………………………
Tôi là thầy lang Trần Văn Khải, người duy nhất trong làng Đồng Lâm biết chữ và biết y thuật. Câu chuyện tôi sắp kể đã ám ảnh tôi suốt phần đời còn lại, và tôi biết nó sẽ ám ảnh cả những thế hệ sau.
Mùa hè năm 1867, một đứa trẻ tên Nguyễn Văn Tình xuất hiện trong làng. Nó mới tám tuổi, mồ côi cha mẹ, được chú ruột là Nguyễn Văn Dũng nhận về nuôi. Ban đầu ai cũng thương nó. Thằng bé lễ phép, siêng năng, không bao giờ than vãn. Nó làm việc đồng áng quần quật từ sáng đến tối mà không hề kêu ca. Bà Tý – vợ chú Dũng – từng khoe với hàng xóm: “Nó ngoan lắm, bảo gì cũng nghe, chưa bao giờ cãi lời.”
Nhưng rồi chính bà lại lẩm bẩm thêm: “mà sao nó chẳng bao giờ cười thật, chỉ nhếch môi chào xã giao, đôi mắt đen thì trống rỗng lạ lùng.”
Tôi là người để ý đầu tiên. Không phải vì tôi đa nghi, mà vì nghề của tôi dạy tôi nhìn vào mắt người ta. Một đứa trẻ bình thường có ánh mắt tò mò, trong veo, đôi khi nghịch ngợm. Còn đôi mắt của Tình – nó như một cái giếng sâu không đáy, tối đen, và khi nhìn vào đó tôi không thấy gì ngoài sự trống rỗng.
Những cái ch;ết bắt đầu từ đó.
Đầu tiên là bé Hồng, con gái ông thợ rèn trong làng. Một buổi trưa oi bức, Tình bất ngờ gõ cửa nhà ông thợ rèn: “Thưa bác, con thấy bé Hồng nằm dưới ao không thở nữa.” Cả nhà chạy ra và đúng thật, bé Hồng đã ch;ế;t đu;ối trong làn nước chỉ sâu ngang hông người lớn.
Tôi được mời đến xem xét. Bề ngoài đó là một tai nạn. Nhưng trong ghi chép riêng, tôi băn khoăn: thằng Tình mô tả từng chi tiết cái chết – quần áo bé Hồng vướng cành sen, bàn tay chìa ra như đang cầu cứu. Sao một đứa bé tám tuổi lại nhớ tường tận đến thế? Và khi tôi nhìn nó trong đám tang, mắt nó khô ráo, ánh nhìn dõi theo từng phản ứng đau đớn của người lớn. Không phải thương xót – mà giống như đang quan sát một điều thú vị.
Ba tuần sau, cụ Cả Thân – một ông già thường lên núi lấy mật ong – được phát hiện ch;ế;t dưới chân vách đá. Xung quanh xá;c cụ có vô số ong ch;ết nằm rải rác. Người tìm thấy x;ác cụ – một lần nữa, lại là Tình. Nó kể rành rọt: “Con thấy nón cụ mắc trên bụi cây, gọi mãi không thưa nên con xuống xem. Thì cụ đã nằm đó.”
Tôi thắc mắc: ong ch;ết nhiều vậy mà tổ ong trên vách núi lại nguyên vẹn, không hề có dấu bị phá. Ong trong tổ vẫn bình thản ra vào như chưa từng có náo động. Tôi ghi thêm vào nhật ký: “Có bàn tay người sắp đặt chăng? Nhưng sao lại là một thằng bé?”
Rồi đến tháng chín, thằng Tèo – con nhà bác xóm trên – mất tích khi chơi ngoài bìa rừng. Bà con đổ xô đi tìm ba ngày liền không thấy. Sang ngày thứ tư, lại chính Tình đến nhà nói:.. “Cháu nghe tiếng khóc trong cái giếng bỏ hoang phía sau gò đất.” Mọi người chạy đến, quả nhiên thấy Tèo dưới đó, yếu ớt thoi thóp. Nhưng nó chỉ kịp thở thêm vài giờ rồi tắt.
Điều khiến tôi lạnh sống lưng là đống cành khô phủ miệng giếng được sắp đặt quá khéo để che giấu – hệt như có chủ ý.
Tôi bắt đầu dành nhiều thời gian quan sát Tình. Tôi vốn là thầy lang từng chữa bệnh cho cả binh lính và dân làng trong thời loạn. Đôi mắt tôi đã quen nhận ra những dấu hiệu bất thường: sự rối trá, sự sợ hãi hay sự lạnh lùng. Với Tình, điều khiến tôi bất an không phải là hành động bề ngoài – nó lễ phép, siêng năng, vâng lời – mà chính là cái trống rỗng trong ánh mắt. Một khoảng tối mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ đứa trẻ nào khác trong làng.
Những lời đồn thổi dần biến thành mê tín. Người già bảo nó là “con của ma lai”, người thì nói nó bị ma nhập, là oan hồn của ai đó mượn xác trẻ con để gieo họa. Những câu chuyện ấy len lỏi trong từng bữa cơm, mỗi buổi chợ quê, khiến cái tên Nguyễn Văn Tình trở thành điều kiêng kỵ.
Một đêm nọ, bà Lựu – hàng xóm sát vách nhà chú Dũng – mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Bà thấy bé Hồng đứng ướt sũng ngoài hiên nhà, tóc xõa dài, chỉ tay về phía nhà Tình mà khóc: “Cô ơi, đừng tin nó. Nó bắt con xuống nước.” Bà giật mình tỉnh giấc, mồ hôi vã ra như tắm. Sáng hôm sau, bà đem chuyện kể với tôi. Tôi trầm ngâm rồi nói: “Có thể là do bà nhớ thương con bé nên sinh mộng. Nhưng cũng có khi giấc mơ là tiếng nói của những điều chúng ta không thấy.”
Những ngày tiếp theo, nhiều chuyện lạ xảy ra quanh nhà chú Dũng. Con trâu to khỏe bỗng lồng lên giữa đêm, húc gãy cả hàng rào rồi chết tức tưởi không rõ nguyên nhân. Vài con gà bị vặn cổ gọn ghẽ như có người làm. Chú Dũng thì chỉ biết kêu trời vì thiệt hại, nhưng dân làng thì thầm rằng mấy chuyện xui rủi đó chỉ xảy ra quanh nhà ấy mà thôi.
Một buổi chiều, khi đi qua chợ, tôi vô tình bắt gặp Tình đang ngồi một góc, mắt chăm chú nhìn con mèo con bị buộc dây rơm. Nó không chơi như lũ trẻ thường làm. Nó chỉ ngồi nhìn lặng im, mắt không rời từng cử động co giật của con vật khi bị kéo lê. Tôi tiến lại gần, hỏi nhỏ: “Sao con không thả nó ra?” Tình quay sang, giọng lễ phép nhưng lạnh tanh: “Thưa thầy, con muốn biết khi nó sợ hãi thì mắt nó đổi màu như thế nào.”
Câu trả lời khiến tôi sởn gáy ốc. Tôi hiểu rằng trong tâm trí thằng bé có một sự tò mò khác thường – không phải sự tò mò trẻ thơ, mà là sự quan sát lạnh lẽo như một kẻ mổ xẻ đang ghi nhận phản ứng của sinh vật.
Đêm ấy, tôi ngồi bên ngọn đèn dầu, mở cuốn sổ tay ra. Tôi viết: “Thằng nhỏ này bề ngoài thì ngoan ngoãn, nhưng ánh mắt lại quá giả, quá tỉnh táo. Nó quan sát cái chết như một học trò quan sát bài giảng. Đây không phải bệnh tật thông thường. Nếu để lâu, cả làng sẽ còn chứng kiến nhiều tai ương.”
Rồi cái ch;ết tiếp theo ập đến. Một buổi sáng sớm, dân làng phát………………..
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 


hiện xác cụ bà Hòa – người hay đi chợ sớm bán rau – nằm gục bên bờ sông. Người ta bảo cụ trượt chân ngã, nhưng dấu chân quanh đó lộn xộn như có người cố tình dắt bà ra mép nước. Và một lần nữa, chính Tình là kẻ đầu tiên có mặt, cũng chính nó lên tiếng báo tin.
Lúc này, chẳng còn ai dám bênh vực hay xua điềm xấu nữa. Mọi ánh mắt dồn về phía thằng bé, nhưng không ai có chứng cứ, cũng chẳng ai dám nói ra thành lời. Tôi sau khi xem xét tử thi cụ Hòa viết trong sổ: “Cụ vốn khỏe mạnh, không dễ gì trượt ngã. Vết bầm trên cánh tay giống như có người giữ chặt. Điều đáng nói: đôi mắt cụ mở trừng trừng, môi mấp máy dở dang như muốn thốt lên điều gì chưa kịp nói.”
Tôi không dám trả lời câu hỏi “Ai là người cuối cùng cụ gặp?” Nhưng trong thầm tâm tôi đã có linh cảm rõ rệt.
Đêm đó, cả làng vang lên tiếng mõ tụng kinh từ ngôi chùa nhỏ. Sư cụ già khuyên dân làng nên làm lễ cầu an, mong thần linh che chở. Nhưng trong ánh mắt hoang mang của bà con, một nỗi sợ khác đang lớn dần: phải chăng chính con người, chứ không phải ma quỷ, mới là thứ đáng sợ nhất?
Sau cái chết của cụ bà Hòa, làng Đồng Lâm chìm trong nỗi ám ảnh. Người ta bắt đầu né tránh nhà chú Dũng. Trẻ con khi nhìn thấy Tình từ xa thì níu chặt váy mẹ, khóc thét. Người lớn dù ghét bỏ cũng không dám công khai nói ra, sợ rằng lỡ lời, tai họa sẽ giáng xuống gia đình mình.
Đêm xuống, hầu như không ai dám ra khỏi nhà. Những cánh cửa gỗ được chốt chặt, đèn dầu được đốt sáng đến tận khuya. Nhưng ánh sáng leo lét ấy chỉ làm lộ rõ thêm sự bất an len lỏi trong từng mái ấm.
Tôi biết đã đến lúc không thể chỉ quan sát và ghi chép nữa. Tôi quyết định theo dõi Tình sát sao, tìm ra chứng cứ. Và một đêm tháng 10, trời đổ mưa lất phất, tôi đã phát hiện điều khiến tôi lạnh sống lưng.
Hôm đó, sau khi ghé khám bệnh cho chú Dũng, tôi để ý thấy Tình lén lút cầm một cái túi nhỏ rời khỏi nhà khi trời đã tối. Linh tính mách bảo, tôi men theo cái bóng gầy guộc của thằng bé, băng qua những lối mòn đầy lá mục tới chân núi đá vôi. Nơi đó có một cái hang sâu mà dân làng thường gọi là hang ma, vốn bị bỏ hoang vì ai vào cũng thấy lạnh gáy.
Tôi nín thở quan sát. Tình thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, lôi từ trong túi ra vài con chim sẻ bị trói cánh. Ánh mắt nó sáng lên, không giống ánh mắt đứa trẻ mà giống kẻ đang háo hức chuẩn bị một thí nghiệm. Nó dùng dao chẻ nhỏ cắt từng vết trên cánh chim, miệng lẩm bẩm: “Mất bao lâu thì nó mới ngừng bay? Nếu cánh bị thương một bên thì nó giãy như thế nào?”
Tôi sững sờ, muốn lao ra ngăn cản, nhưng bàn chân như bị đóng chặt. Tôi nhận ra những cái chết của dân làng, của súc vật hoàn toàn có thể là kết quả từ những thí nghiệm như thế này. Sau khi hành hạ con chim đến chết, Tình lấy ra một mảnh giấy, nguệch ngoạc ghi chép bằng nét chữ trẻ con nhưng ngay ngắn: “Chim ngừng kêu sau bảy lần co giật. Khi cánh bị cắt, nó vẫn cố bay nhưng rơi nhanh hơn.”
Tôi quay về, run rẩy viết vào nhật ký: “Nó không chỉ quan sát, nó nghiên cứu. Nó thử nghiệm như một thầy thuốc giải phẫu, nhưng với sự tàn nhẫn thuần khiết. Những con vật, những cái chết trong làng – tất cả chỉ là phần của trò chơi quái ác.”
Tôi phát hiện quanh làng có nhiều xác động vật chết kỳ lạ: gà bị vặn cổ, chó bị cắt gân chân, trâu bò lăn ra chết mà không dấu hiệu bệnh. Khi tôi xem kỹ, vết thương đều nằm ở những chỗ hiểm, đòi hỏi hiểu biết về cơ thể – không thể nào là do thú rừng.
Rồi tai họa bắt đầu giáng xuống chính con người. Thằng Hợi – con trai 10 tuổi nhà ông Phạm – mất tích khi đang chơi ngoài bãi tre. Cả xóm đi tìm, tiếng gọi vang khắp nơi. Mãi đến sáng hôm sau, Tình mới bước đến, mặt lấm lem, giọng bình thản: “Con thấy nó ở bờ giếng sau gò đất.” Người ta chạy theo và đúng thật, thằng Hợi nằm trong lòng giếng cạn, thân thể xây xát, hơi thở thoi thóp. Thầy thuốc được mời đến, dùng hết thuốc thang nhưng không kịp. Thằng bé tắt thở khi trời vừa sáng. Điều lạ lùng: vách giếng bị phủ bằng những cành che gãy, xếp ngay ngắn như ai đó cố tình che chắn.
Tôi run tay ghi trong sổ: “Không còn là trùng hợp. Đây là sự sắp đặt. Một kẻ tám tuổi mà biết che giấu giỏi đến vậy thì bản chất không còn là trẻ con nữa.”
Sau cái chết ấy, dân làng bắt đầu giấy lên nỗi sợ rõ rệt. Có người đề nghị nộp thằng bé cho quan phủ, có người thì bảo đưa nó lên chùa giam lại để tụng kinh trục tà. Nhưng chú Dũng khăng khăng giữ cháu: “Nó là máu mủ, tôi không thể bỏ.” Câu nói nghe thì nghĩa tình, nhưng đôi bàn tay ông run lẩy bẩy, như thể chính ông cũng sợ sống cùng thằng bé.
Tôi biết thời gian không còn nhiều. Một hôm, tôi cố tình hỏi chuyện Tình khi nó đang ngồi chẻ củi: “Con có bao giờ nghĩ chết thì như thế nào không?” Tình ngẩng lên, đôi mắt đen sâu thẳm, mỉm cười nhạt: “Thưa thầy, con nghĩ nhiều rồi. Người chết cũng giống con vật thôi, chỉ khác là họ biết mình sắp chết. Và vì thế họ thú vị hơn.”
Lời nói bình thản không run rẩy khiến tôi sởn gáy ốc. Tôi hiểu Tình không chỉ tình cờ có mặt ở các vụ chết chóc – nó đang thử nghiệm.
Đỉnh điểm là khi bà Tý, vợ chú Dũng, ngất lịm ngay trong bếp. Khi người ta phát hiện bà nằm sóng soài, bên cạnh là bát nước trà xanh có mùi hắc lạ lùng. Bà được cứu kịp nhưng kể lại trong run rẩy: “Tôi vừa uống ngụm nước thì thấy nhói ở cổ, ngực nóng rát rồi chẳng nhớ gì nữa. Tôi nhìn thoáng qua nó đang đứng ngoài cửa bếp, mắt sáng quắc.”
Nghe đến đó, tôi biết thằng bé đã bắt đầu thử trên người thân. Trong đêm, tôi mở sổ, ghi những dòng run rẩy: “Nó không dừng lại ở động vật. Nó đang tiến tới con người. Những cái chết trẻ nhỏ, rồi giờ là người lớn. Mục tiêu tiếp theo có thể chính là chú thím nó. Tôi phải hành động trước khi quá muộn.”
Tôi quyết định báo cho Lý trưởng và vài người tin cậy. Nhưng tôi cũng sợ: ai sẽ tin một thầy lang già rằng một thằng bé tám tuổi lại là kẻ gieo rắc chết chóc? Họ sẽ cho là tôi hoang tưởng hay bị ám bởi ma quỷ.
Rồi một buổi sáng lạnh, khi vào gian bếp, tôi vô tình thấy dưới gầm trõng của Tình có cất một cái túi. Tôi giả vờ vô tình lật ra. Bên trong không phải đồ chơi trẻ con mà là những sợi dây thừng, dao chẻ mài sắc và những mảnh giấy đầy hình vẽ ghê rợn – người bị trói, người bị dìm dưới nước, thậm chí cả hình vẽ một người đàn bà tóc dài nằm bất động, nét phác giống hệt thím Tý.
Tôi cố giữ bình tĩnh, nhưng lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi. Rõ ràng Tình không chỉ dừng ở ý nghĩ – nó đã lên kế hoạch.
Chiều hôm đó, tôi giả vờ hỏi chuyện Tình: “Nếu một người bị trói thì họ có thể làm gì để thoát?” Thằng bé ngẩng lên, mỉm cười: “Con nghĩ nếu bị trói tay thì họ chỉ có thể kêu cứu thôi. Nhưng nếu miệng cũng bị bịt thì họ chẳng làm gì được cả. Lúc ấy chỉ còn chờ chết.”
Tôi dùng mình. Đêm ấy, tôi không ngủ. Tôi ghi vào sổ: “Hắn đã tính đến việc ra tay với chính người nuôi dưỡng mình. Đây không còn là thử nghiệm ngẫu nhiên, đây là sự chọn lựa. Tai họa có thể đến bất cứ lúc nào.”
Và đúng như tôi lo sợ, chỉ vài hôm sau, bi kịch suýt xảy ra. Hôm đó trời âm u, mưa bụi giăng kín lối. Tôi đến thăm thì thấy không khí trong nhà khác thường – không nghe tiếng gà, tiếng chó, sân vườn im phăng phắc. Tôi bước vào thì bắt gặp Tình đang đứng ở cửa, hai tay rửa sạch bóng, áo xắn tới khuỷu. Nó cười nhẹ: “Con chờ thầy. Hôm nay chúng ta sẽ có chuyện thú vị để bàn.”
Trong buồng, chú Dũng và thím Tý nằm bất động, hơi thở yếu ớt, mặt tái xanh. Tôi vội xem mạch, phát hiện họ bị hôn mê vì một loại thảo dược độc tính nhẹ – có lẽ do Tình ngụy trang trong thức ăn. May mắn, liều lượng chưa đủ để chết ngay, nhưng cũng đủ khiến họ không còn sức phản kháng.
Tôi quay lại nhìn thằng bé. Tình ngồi xuống ghế bình thản như một ông cụ non, giọng chậm rãi: “Thầy biết không? Con đã thử với chim, với chó, với trẻ con khác. Nhưng có một điều con chưa biết: nếu kẻ bị hại là người thân – những người tin tưởng mình – thì phản ứng sẽ khác thế nào. Con nghĩ thầy cũng tò mò như con.”
Tôi nghẹn thở. Tôi hiểu mình đang ngồi đối diện không phải một đứa trẻ, mà là một tâm hồn lạnh lẽo, tính toán bất ngờ.
Tình đứng dậy, lấy ra từ gầm bàn một con dao dài. Ánh thép lóe lên dưới ánh đèn dầu. Nó vừa cười vừa nói: “Hôm nay con còn muốn biết một người sẽ làm gì để cứu người mình thương khi biết chắc chắn cái chết đang ở trước mặt.”
Câu nói vang vọng như nhát dao cắt vào lòng tôi. Trong khoảnh khắc, tôi hiểu nếu không hành động ngay, chú Dũng và thím Tý sẽ chết, và bản thân tôi có thể là người kế tiếp.
Đúng lúc ấy, ngoài sân vang lên tiếng động bước chân nặng nề, tiếng khua sắt. Tôi thở phào vì biết đó chính là Lý trưởng và mấy người lính lệ mà tôi đã báo trước. Tôi đã linh cảm điều này sẽ xảy ra nên bí mật cầu cứu.
Tình quay phắt ra cửa, nhưng thay vì hoảng sợ, nó chỉ mỉm cười, ánh mắt sáng rực: “Thầy xem đi, họ sẽ không tin đâu. Ai lại tin một thằng bé tám tuổi lại có thể làm những việc này?”
Câu nói đó cùng nụ cười lạnh lẽo khiến sống lưng tôi lạnh buốt. Tôi biết trận đối đầu thực sự giữa ánh sáng và bóng tối đã bắt đầu.
Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đó. Tình bị giải lên phủ, nhưng vì mới tám tuổi, triều đình không thể kết án tử. Họ quyết định giam nó vào nhà lao phủ, chờ ngày đưa tới trại giam đặc biệt ở kinh kỳ để giám sát và nghiên cứu. Tôi nghe mà lòng nặng trĩu. Tôi biết nhốt thì nhốt, nhưng cái bóng tối trong đứa bé kia không bức tường nào giam nổi.
Và đúng như dự liệu, chưa đầy một năm sau, tin tức từ kinh thành đưa về: Nguyễn Văn Tình biến mất khỏi ngục. Người ta không biết nó trốn bằng cách nào, chỉ để lại trong buồng giam một mảnh giấy: “Người chết khác thú ở chỗ họ biết mình sắp chết. Ta còn nhiều điều chưa thử.”
Tin ấy làm cả làng Đồng Lâm hoảng loạn. Nhiều người dọn đi nơi khác. Nhà chú Dũng, thím Tý bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Hang ma được bịt kín, nhưng trẻ con vẫn truyền nhau: ai bén mảng đến đó sẽ nghe tiếng khóc, tiếng cười lạ lùng.
Nhiều năm sau, vẫn có tin đồn ở các làng khác: súc vật chết bí ẩn, trẻ con mất tích, người già ngã gục không rõ lý do. Và thường đâu đó người ta thấy bóng dáng một đứa bé lạ, lễ phép cúi chào, đôi mắt đen láy nhìn xoáy sâu.
Tôi đã già rồi. Trước khi nhắm mắt, tôi để lại cuốn sổ ghi chép dày cộm, kèm lời nhắn: “Có những kẻ sinh ra đã thiếu mất lòng trắc ẩn. Họ không biết sợ, không biết thương. Đó là loại ma quỷ mang hình hài con người. Và đáng sợ nhất là khi chúng đội lốt một đứa trẻ.”




