Tiếng Khóc Của Đứa Trẻ Giữa Trận Đ;ánh Pol Pot – Điều Tôi Nhìn Thấy Ám Ảnh Suốt Đời……..
Ngày 18 tháng 5 năm 1979, trung đoàn tổ chức meeting gửi quyết tâm thư. Tôi không hiểu sao đất nước đang bị xâm lược mà Bộ trưởng Quốc phòng lại đi công du. Cả ngày hôm đó, đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Campuchia. Ngày hôm sau, tiểu đoàn chỉ thị cho C7 bắn thử đạn B41 của Trung Quốc vì nhiều lô đạn trước đó đã bị nổ tại chỗ. Tôi dẫn một trung đội đi bảo vệ. Quân khí buộc súng vào cây, lắp đạn, dùng dây thông tin buộc vào cò, lùi xa kéo bắn thử. Thấy bình thường, họ mới yên tâm cấp phát. Đến tối, tiểu đoàn rời Ăngco theo đường 662 hành quân lên hướng bắc.
Chúng tôi luồn trong rừng, đến gần sáng dừng lại ngủ ngoài dãy bỏ hoang. Trời sáng rõ, tiến vào một phum gặp trinh sát và trung đoàn bộ. Mấy ngày liên tiếp mang vác nặng suốt đêm hành quân, mờ sáng nổ súng đánh vào chỗ không người, bộ đội mệt bơ phờ. Tôi bị mảnh đạn ở đốt sống lưng, ba lô nặng tấn vào rất khó chịu. Cả hai chân đều có mảnh đạn chưa ổn định, nhất là chân phải bị cả trước bẹn lẫn sau mông. Mỗi bước đi đau nhói, gần như phải kéo lê. Có lần tôi phải chui vào bụi rậm lén đổ bớt gạo. Có ai đó trông thấy báo cáo anh Trường, anh phê bình tôi là chỉ huy mà không gương mẫu.
Vào một buổi tối, C7 hành quân cùng tiểu đoàn. Tôi lúc này đã rất mệt, lê bước chậm dần. Bỗng giật mình khi trong màn sương bên trái cách khoảng 30 mét có một thằng Miên khoác K63 đứng trên ụ mối định bóp cò thì anh Minh đi sau quát khẽ: “Đừng bắn!” Thằng Miên hoảng hồn bỏ chạy. Sáng rõ, mục tiêu là một phum có nhiều tre. Đinh Dũng phân công tôi chỉ huy một mũi, hắn bảo: “Chết cũng xông vô.” Vào phum, chúng tôi thấy một phụ nữ bế đứa nhỏ từ bụi rậm chui ra. Họ đã kịp đào một hố to để ẩn nấp. May mắn những viên đạn của tôi chỉ làm gãy mấy cành lá. Trong phum không có gì khả nghi.
Sáng ngày 26 tháng 5, C7 hành quân theo đường 662. Đi đầu là trinh sát và C6 có một thằng tù binh dẫn đường. Ra khỏi Fo khoảng hơn 30 phút, C6 rẽ trái gặp một đoạn suối có cầu độc mộc. Tên tù binh qua cầu rồi đạp khúc gỗ rơi xuống suối và bỏ chạy. Lính C6 bắn không trúng, vượt suối đuổi theo, bị địch trong phum bắn thương vong. Tiểu đoàn ra lệnh C5 và C7 vòng trái đánh vào phum. C5 theo đường chạy lên cánh đồng. Anh Thắng bố trí đại liên ở bìa rừng. Xê phó bị địch bắn hy sinh. Một quả B40 nổ trên ngọn cây, anh Thắng và cả khẩu đội bị thương. Tôi cho trung đội ở lại làm dự bị và bảo vệ sở chỉ huy. Đợt xung phong thứ nhất thất bại. Thương binh nằm la liệt sau các ụ mối. Anh Côi đứng thẳng người quan sát la hét chỉ huy.
Lệnh chuẩn bị xung phong. Đinh Dũng hô: “Lên đi!” Tôi bật hô theo. Chạy lên vài chục mét gặp bờ ruộng thấp, tôi nằm quan sát. Đạn địch cày ngang dọc. Thằng Tài đội khăn mặt trắng trên đầu bị địch phát hiện, tôi phải hét bảo hắn quăng khăn nằm im. Tôi dướn người ném quả M26 và một quả lựu đạn vỏ các tông của Mỹ. Khói đen bùng lên, tôi hét: “Chạy lui!” rồi cùng anh em nhào vào rừng. Quả lựu đạn ít mảnh sát thương đã che được mắt địch cứu chúng tôi. Chạy lui vào rừng thì rừng đã bị cháy bởi đạn địch. Lính mặt mũi đen nhẹm vẫn phải bám trụ. Chừng gần một tiếng sau, thấy D2 bế tắc, trung đoàn điều bốn xe M113 và C1 đánh thốc lên. Khi tiếng súng phía sau phum rộ lên, thời cơ đã đến. C5 xung phong, Đinh Dũng hét lên, cả đại đội lao theo. Ra khỏi rừng, lại có mấy người trúng đạn ngã, nhưng đạn cày dưới chân như mũi tên đã phóng, không thể dừng.
Quân số đại đội chỉ còn chưa đến 30 tay súng. Người hy sinh duy nhất là Nhẫn, 18 tuổi, bị đạn xuyên ngực. Tôi cúi đầu vĩnh biệt em, tự trách mình vô tâm. Trên bờ đập có ba tử sĩ của C5 nằm giữa ruộng, anh em không kéo vào được nên bị trúng thêm nhiều viên đạn. Tôi nhìn đồng hồ trên tay xê phó, rồi nhìn anh Xưởng dân tộc Thái, người đêm ngủ thường mắc màn cho tôi, và Nghêu quê Quỳnh Lưu, trước là A trưởng C7. Các anh đã không còn.
Mấy ngày sau, anh Trường cho một tổ dẫn hai thằng hàng binh về giao cho tôi quản. Tôi cho ở căn hầm, dùng ngôn ngữ tay bảo chúng không được tự do đi lại. Hàng ngày chúng ăn cùng tôi. Có bữa không có gì ăn, tôi xé gói bột canh rắc vào bát cơm chúng. Hai thằng mặt tái mét không dám ăn, tôi ăn trước để chúng yên tâm. Sau đó chúng dẫn chúng tôi đi lấy hai khẩu AK giấu trong rừng. Hôm sau, xe trung đoàn đưa hai hàng binh ra Xiêm Diệp nhập ngũ. Tại phum Đôn Em, chúng tôi thường gặp gà rừng và khỉ đi kiếm ăn từng đàn. Lần đầu gặp đàn gà, tôi ngắm bắn không trúng, đem cả trung đội súng AK ra thử không khẩu nào chính xác. Lần sau đành bò đến thật gần mới bắn.
Hành quân hơn nửa tháng, đơn vị được lệnh rút. Về Ăngco, tôi lăn ra gốc cây ngủ. Thằng Khiêu đưa biên bản kiểm kê di vật của Nhẫn để ký. Tôi hỏi sao không có đồ cũ, nó bảo trên quy định phải cấp mới. Thật lạ, đồ cũ của liệt sĩ mới là di vật thực sự. Sáng hôm sau, toàn trung đoàn lên xe hành quân bắt Tam Bang. Tôi được chuyển sang làm chính trị viên phó dù mới 20 tuổi. Trên đường đi, xe chúng tôi bị địch phục trong vườn cam bắn AK, một chiến sĩ bị thương. Khen thay có ba thằng mà dám đánh cả đoàn xe.
Chiều hôm đó, tôi đi tát cá cùng Đinh Dũng. Thằng Thành sốt 41 độ vẫn đi tát cá được, làm anh Lanh hoảng hồn. Chúng tôi bắt được hai xoong cá. Lúc bắt cá, tôi bị cá bò đâm thủng tay. Cá bò giống cá trê, đầu to vảy nhám, có hai ngạnh rất sắc. Hầu như lính nào bắt cá đồng ở Cam đều dính đòn. Bữa canh cá nấu me chua là bữa ngon nhất trong chiến dịch..
Sáng 26 tháng 5, chúng tôi rẽ theo đường bò. Rừng khộp mênh mông, mãi đến 9 giờ mới biết bị lạc. Anh Côi điện về trung đoàn hỏi đường, được chỉ thị bắn B41 để xác định vị trí. Tiếp tục hành quân, chúng tôi gặp một đôi vợ chồng Campuchia, người vợ gầy gò địu đứa con mới đẻ. Mấy anh em mở ba lô lấy sữa, mì tôm, gạo sấy cho họ. Hai vợ chồng chỉ biết chắp tay lạy cảm ơn bộ đội Việt Nam.
Rạng sáng 27 tháng 5, các đơn vị tấn công Tà Xanh. C7 bảo vệ chỉ huy trung đoàn cùng pháo. Khoảng 7 giờ, lệnh pháo bắn. Pháo bắn chỉ mấy phút đã hết đạn. Gần chục xe tăng, M113 lao lên. Pháo bắn 30 phút,……………..
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 


ông lệnh dê ba xung phong. Địch chống trả quyết liệt. Ngay đợt xung phong đầu, Nhàn C phó C11 và một số chiến sĩ hy sinh. Thấy D3 khó khăn, ông lệnh C5 cùng M113 đánh thọc sườn. Một khẩu 127 của địch bắn, lái xe và một pháo thủ hy sinh. Bộ binh địch tan dã chạy. Quá trưa, trận đánh kết thúc. Trung đoàn cận vệ Nông Pênh bị đánh thiệt hại nặng. Ngày 28 tháng 5, tôi lục đống giấy tờ ở Tà Xanh, thấy tệp khai của lính ta bị địch bắt làm tù binh. Tờ nào cũng viết na ná nhau, đại loại họ tên, đơn vị, rồi bị tập đoàn phản động đưa đi xâm lược, xin khoan hồng. Tôi hiểu số phận của những người đồng đội bi thảm thế nào vì Khơ Me Đỏ chưa bao giờ có khái niệm tù binh.
Cùng thời gian, Vũ Thanh Hà chỉ huy ba người lùng sục, gặp một chiếc cặp da đen trong bụi cây. Đó là hộ chiếu của Yên Sari, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Khơ Me Đỏ, cùng con dấu của Bộ Ngoại giao và nhiều tài liệu quan trọng. Chứng tỏ tên đầu sỏ thứ hai khi bị đánh đã hoảng loạn vứt bỏ tất cả để chạy. Thu được hộ chiếu này có ý nghĩa quan trọng giúp Việt Nam tố cáo Trung Quốc nuôi dưỡng chế độ diệt chủng.
Tại tức Sóc, C5 đào được một hầm có trên 300 khẩu súng. Tôi dẫn một trung đội đi lùng sục. Vừa đến chân đồi, một loạt AK từ trên đỉnh bắn xuống. Không chờ lệnh, mọi người nổ súng bắn trả. Bên kia mái đồi, hai chiếc xe Jeep đang chạy trốn. Chạy bộ đuổi theo, cả hai xe lao xuống khe cạn, địch bỏ xe chạy. Lục soát, tôi lấy được khẩu súng ngắn bằng thép trắng bé như hai ngón tay, còn mấy viên đạn nhỏ xíu – súng ám sát. Quay lại, lính ta phát hiện hai hố sâu có súng địch phủ lá khô – hàng ngàn khẩu súng trường cổ, năm sản xuất 1914, có khẩu ghi 1905. Nhìn đống súng rỉ sét, tôi không hiểu địch giấu để làm gì.
Đêm 13 tháng 4, trăng mùa khô sáng vằng vặc. Gần sáng, tiếng súng rộ lên. Hóa ra địch đào sắn cách A Cối vài chục mét, bị phát hiện bỏ chạy. Tiếng súng lại rộ lên ở bên kia suối. Tôi và anh Thanh chạy ra, thấy mép suối lính ta đang lội từ thượng nguồn xuống. Có tiếng trẻ con khóc toáng ở hòn đá giữa dòng. Tôi vừa nhận ra Hiển B trưởng B9 thì một loạt đạn từ bờ bên kia bắn sang, Hiển trúng đạn ngã gục. Tôi lao đến, xốc Hiển lôi vào sau húc đá. Một chiến sĩ xốc tử sĩ trên vai chạy về. Sững người khi thấy đó là Lý, A trưởng, con trai một bí thư xã ở Can Lộc. Đưa được tử sĩ ra, chúng tôi nằm vào bụi lau xả đạn. Anh Thanh bắn bốn quả B40. Đám lau tan tành, chúng tôi rút về. Lý bị loạt AR15 găm trúng ngực, Hiển bị hai phát xuyên ngang hông. Trước khi được cáng đi, Hiển nắm tay tôi hỏi: “Có ai bị nữa không?” Tôi gạt nước mắt: “Không, mày yên tâm đi điều trị.” Hiển về viện 175 mấy tháng rồi cũng hy sinh. Thế là kể từ tháng 11 năm 1977 thành lập đại đội ở An Giang, quân số gần 70 người, đến giờ chỉ còn lại sáu. Hiển là liệt sĩ cuối cùng của tiểu đoàn ở chiến trường Campuchia.
Trời sáng rõ, tôi và anh Thanh xuống kiểm tra bãi lau, năm xác lính Pôn Pốt nằm co quắp. Chúng chỉ mới 12-13 tuổi, mặc đồ đen. Hai thằng còn sống, tôi hô: “Tung lép! Cam pông lên! Chô lốc đây lơn!” Chúng ngoan ngoãn thả súng giơ tay. Ở bờ suối có một xác Miên và em bé bốn tuổi mặc váy đầm trắng có nụ hoa đỏ, khác hẳn màu đen trên người Campuchia. Có lẽ em là con của một nhân vật cao cấp Khơ Me Đỏ. Nuôi hai thằng oắt một ngày, chúng tôi đưa về tiểu đoàn. Nghe nói em bé được giao cho bà Lan Đàm.
Chiến tranh Campuchia năm 1979 với tôi không chỉ là những trận đánh. Đó là những đêm hành quân trong rừng khộp, những bữa canh cá đồng, tiếng khóc trẻ con giữa làn đạn, đàn khỉ theo lính, và nỗi đau mất đồng đội. Tôi vẫn mang mảnh đạn trong người, nhưng vết thương lớn nhất là những người lính trẻ đã nằm lại nơi xa xôi ấy. Hiển, Lý, Nhẫn, Nghêu, Xưởng – họ ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, để lại những ký ức không thể nào quên trong trái tim người ở lại. Chiến tranh kết thúc, nhưng những vết thương – cả thể xác lẫn tinh thần – vẫn còn đó, nhắc nhở chúng tôi về một thời đã qua, về những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi đất khách.





