Anh nuôi chă/n lợn bị đồng đội khi/nh thườ/ng, mãi đến khi cầ/m sú/ng b/ắn bia mới lộ thân phận thật.
…………………………………………..
Tôi bị điều từ lữ đoàn đặc công xuống đại đội bộ binh làm nhiệm vụ… nuôi lợn. Người ta đồn tôi là thằng h/èn, sợ đạ/n ph/áo bỏ vị trí chiến đấu, bị tò/a á/n bi/nh x/ét x/ử rồi đẩ/y xu/ống đây cải tạo. Sáng 3 rưỡi, tôi dậy kéo nước, bă/m chuối, thái bèo tây, nấu cám cho sáu con lợn mà cả đại đội trông vào để có th/ịt ăn Tết. Mặc chiếc áo lót cộc tay quân nhu sờn rách, đôi dép đúc lạch bạch, tay c/ầm d/ao d/ựa băm chuối phập phập, tiếng lợn kêu eng éc. Tôi là trưởng chuồng, cái tên đám lính trẻ gá/n cho tôi.
Đến kỳ hội thao quyết thắng toàn sư đoàn, đại đội trưởng Quân quyết tâm giành giải thưởng ba tạ gạo, năm mươi hộp thị/t hộp để cải thiện bữa ăn ngày Tết cho bộ đội. Nhưng đơn vị chúng tôi toàn tân binh, thể lực kém, bắn súng t/ệ. Ngày đầu, các bài thi thá/o l/ắp sún/g b/ịt m/ắt, ném l/ựu đạ/n xa, vận động chiến trường đều thả/m hại. Bảng điểm áp chót khiến đại đội trưởng Quân mặt mày ủ d/ột, mắng cả đơn vị.
Sáng hôm sau, đến nội dung quan trọng nhất: vượt chướng ngại vật K91 và bắn bia ẩn hiện. Đây là bài thi quyết định, nhưng chiến sĩ Hùng, người có thể lực tốt nhất, vừa chạy 10km vũ trang xong k/iệt sứ/c, q/uỵ ngay trước bức tường gỗ. Trọng tài thông báo: ba phút để cử người thay thế, nếu không sẽ bị xuất quyền.
Đại đội trưởng Quân đứng sững, đám lính trẻ cúi gằm mặt. Thời gian đếm ngược vang lên từ loa: 60 giây… 30 giây… Không một cánh tay nào giơ lên.
Tôi đặt chiếc can nhựa nước chè xuống, cởi phăng chiếc áo bông quân nhu, chỉ còn chiếc áo lót cộc tay rách t/ả tơi và chiếc quần vải Tô Châu sờn. Cả thao trường nhìn tôi – gã trưởng chuồng, lấm lem bùn đất, lững thững bước ra. Những lời xì xào: “Thằ/ng nuôi lợn mày làm gì?” Tôi bước qua, đứng trước mặt đại đội trưởng: “Đại đội trưởng, giao phần này cho tôi.”
Quân ngẩn người, nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gật đầu. Tôi tiến đến vạch xuất phát, khởi động khớp tay chân, mắt lướt qua chướng ngại vật. Tôi cầm khẩ/u AK47 kiểm tra, bệ khóa nòng kêu rắc, tay trái gạt về chế độ điểm xạ, thao tác dứt khoát như một thói quen bản năng. Tôi đặt sú/ng xuống, hạ thấp trọng tâm, chờ tiếng còi.
Còi vang lên. Tôi lao đi. Chỉ ba giây sau, bàn tay bám mép tường cao hai mét, tôi lộn người qua không cần đà. Tiếp đất lăn một vòng, chạy thẳng xuống hào nước đục, bơi ếch, bò qua ống cống bê tông tối om, trườn dưới lưới kẽm ga/i bằng tốc độ của thằn lằn. Đám lính đứng bên lề im bặt, mắt trợ/n tr/òn. Đến thân cây cau trơn trượt bắt ngang mương nước, tôi chạy bảy bước dồn dập, cân bằng hoàn hảo, đáp đất bên kia bằng một vòng lăn chiến thuật.
Trong khi hơi thở vẫn đều đặn hai nhịp, tôi lao thẳng đến chiếc bàn bạt xanh cách 50 mét, giang chân, tay phải nâng sú/ng, tay trái lắp băng đạn, gõ gót kêu cạch. Tôi bước lên tuyến bắn, chờ bia.
Tấm bia số B đầu tiên bật lên từ sau ụ đất, cách đó 100 mét, chỉ hiển thị trong năm giây. Không cần ngắm nghía lâu, cơ bắp ở cánh tay và bả vai tự động điều chỉnh. Tôi nín thở, b/óp c/ò. Đoàng! Đoàng! Hai viên đạn găm thẳng vào vòng tròn tâm bia. Cả thao trường vỡ òa chưa kịp thì tấm bia thứ hai bật lên từ bên phải, cách 80 mét. Tôi xoay mũi chân, h/ất s/úng, b/óp c/ò hai phát liền chẩn sáp vào đầu bia.
Tấm bia cuối, cự ly 60 mét, ẩn sau bụi cây. Tôi quỳ xuống một gối, cùi trỏ tì lên đầu gối, bất động. Đoàng! Đoàng! Hai v/iên đ/ạn cuối xuyên qua lùm cây, đ/ục thủ/ng ngực bia. Tổng thời gian hoàn thành cả bài thi ít hơn một nửa tiêu chuẩn. Tôi tháo băng đạn, đặt sú/ng xuống, quay lưng, bình thản đi về khu hậu cần.
Cả thao trường im lặng rồi vỡ òa reo hò. Trọng tài thông báo kỷ lục vượt xa mọi thành tích của sư đoàn năm năm qua. Đám lính đại đội sáu nhảy cẫng lên vây quanh đại đội trưởng Quân.
Nhưng tôi, tôi về gốc bàng, nhặt con dao, ngồi xuống băm tiếp thân chuối cho lợn.
Cục diện thay đổi nhanh chóng. Tôi đang rửa củ xu hào thì viên sĩ quan tham mưu đại úy cùng hai vệ binh có súng tới, yêu cầu tôi lên lều chỉ huy sư đoàn gấp.
Trong lều bạt màu xanh rêu, sư đoàn trưởng ngồi với một tập hồ sơ màu ố vàng, dấu mộc đỏ “Tuyệt mật”. Đại đội trưởng Quân đứng cạnh, mặt đỏ như gà chọi, mồ hôi nhễ nhại. Tôi bước vào, đứng nghiêm, giơ tay chào.
Sư đoàn trưởng không ngẩng đầu, đọc lớn từng chữ trong lý lịch: “Huỳnh, thượng úy, phân đội trưởng đặc công lữ đoàn M, hai lần huân chương chiến công hạng nhất và nhì trong chiến dịch luồn sâu phá hoại cứ điểm địch… là người sống sót duy nhất của phân đội 13 người trong nhiệm vụ tử thủ tại cao điểm 685 mặt trận Vị Xuyên hai năm trước.”
Quân đứng bên, giật thót vai, trợn mắt nhìn bộ quần áo lấm lem cám lợn của tôi, không giấu được bàng hoàng.
Tôi đứng yên, mắt nhìn cầu vai sư đoàn trưởng, không nói lời nào. Ký ức về hai năm trước ào ạt tràn về.
Cao điểm 685, cái tên người lính đặt là “Lò vôi thế kỷ”. Núi đá tai mèo bị hàng vạn quả đạn pháo băm nát thành bụi vôi trắng xóa. Phân đội tôi 13 người nhận lệnh luồn sâu, phá hủy trận địa pháo H12 và vẽ tọa độ cho pháo binh. Chúng tôi bôi bùn đất, mặc quần đùi xà lỏn, mang AK báng gập, lựu đạn và dao găm, bò qua hàng rào kẽm gai và bãi mìn. Ba ngày sau, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, nhưng lúc rút lui, một tiếng nổ đã đánh động địch. Hỏa lực dồn dập, chúng tôi bị bao vây trong một hốc đá cạn. Máy thông tin vô tuyến bị hỏng, không liên lạc được.
Ba ngày đêm trong hốc đá. Đạn pháo dội xuống như mưa. Nước cạn, cổ họng nứt nẻ, anh em hứng nước tiểu của nhau để uống. Rạng sáng ngày thứ tư, địch tràn lên. Chính trị viên phó phân đội, bị mảnh pháo cắt đứt một đùi, đã gom số lựu đạn còn sót lại và quả mìn định hướng DH10, gài kín trong kẽ đá. Hắn bảo tôi phải giữ tấm bản đồ tọa độ, sống sót mang về. Bốn người cuối cùng lao lên cản địch, tiếng nổ vang lên, lửa và bụi đá cuộn lên, nhấn chìm tất cả.
Tôi nhảy khỏi vách đá, tấm bản đồ trong ngực. Đạn địch rít bên tai. Tôi trườn qua sỏi đá, rễ cây xơ xác, và sống sót. Khi tôi đến trạm gác, giao được bản đồ cho pháo binh, hàng chục khẩu pháo 152mm của ta nổ, cày nát trận địa địch. Rồi tôi ngất đi.
Tỉnh dậy trên giường bệnh, tôi biết 12 anh em đã nằm lại mãi mãi, thi thể không tìm được. Tôi nhận hai huân chương chiến công. Nhưng sức nặng của hai miếng kim loại ấy đè bẹp lồng ngực. Tôi thấy mình hèn nhát vì đã sống sót, thấy mình cướp đi vinh quang của những người đã chết. Tôi viết đơn xin gạch tên khỏi danh sách đề bạt, tháo quân hàm thượng úy, xách ba lô xuống đại đội này nhận việc trông lợn. Suốt hai năm, tôi dồn mình vào đống bùn phân để đẩy ải bản thân, để lẫn tránh ký ức.
Sư đoàn trưởng hạ hồ sơ xuống, ánh mắt đầy xót xa. Ông hỏi tôi tại sao. Tôi chỉ đáp: “Báo cáo, tôi tự nguyện.”
Tôi rời lều. Tôi trở lại khu bếp, gánh nước, băm bèo, hót phân. Nhưng tối hôm đó, đại đội trưởng Quân đến. Ông ngồi xuống bậc thềm cạnh vỏ bếp lò, đặt chai rượu quốc lủi và bát thịt luộc. Ông rót hai bát, đẩy tôi một bát, rồi kể: em trai ông, Thắng, đi vận tải ở Vị Xuyên, bị pháo địch nghiền nát trong chiến hào, không tìm được xác. Quân nói, những người đã hy sinh, hy sinh để anh sống. Việc anh tự đày ải là xúc phạm họ. Anh phải sống trọn vẹn, sống thay cho phần đời của những người đã khuất.
Tôi nhìn bát rượu, nước mắt trào ra. Không kìm nén nữa, tôi để mặc nước mắt giàn giụa, rửa trôi lớp bụi cám trên mặt. Tôi đứng dậy, nâng bát rượu lên ngang mày, nhắm mắt, hình ảnh 12 người bạn phủ đầy bụi vôi trắng xóa hiện ra, nhưng không còn kèm theo tiếng gào thét. Tôi đổ rượu xuống đất, tiễn biệt họ. Rồi tôi cạn phần còn lại, lửa nóng lan trong cổ họng, trong lồng ngực. Trận chiến nội tâm cuối cùng cũng có lối thoát.
Sáng hôm sau, trở về doanh trại, trên chiếc xe tải đầy ắp tiếng cười của đám lính trẻ, tôi ngồi ở mép thùng xe. Tôi tháo con dao găm buộc dưới bắp chân, thứ đã gắn với tôi cả hai năm qua, nhét nó vào đáy ba lô. Lớp da bắp chân hằn vết đỏ. Tôi xoa bóp nó, cảm nhận dòng máu lưu thông. Gió núi thổi mát. Nắng mới.
Mười ba sinh mệnh nằm lại ở Vị Xuyên, và tôi, người lính duy nhất sống sót, cất bước về phía trước. Tôi sẽ sống cuộc đời của mình, và gánh vác cả cuộc đời của họ.





