Ra T/ù Sau 10 Năm O/an U/ổng, Tôi Ph/át H/iện B/í M/ật Gi/ấu Dưới Bà/n T/hờ V/ợ, K/ẻ Th/ủ Á/c Lại Chính là ………
Tôi quỳ dưới chân bàn th/ờ vợ trong căn buồng tối. Tấm ảnh bà Hòa phủ bụi mỏng. Mười năm trước tôi bị cò/ng ta/y đưa khỏi chính ngôi nhà nà/y. Mười năm sau tôi trở về, b/àn t/hờ vợ bị đẩy vào góc tối cạnh mấy thùng hàng, hương lạnh từ bao giờ.
Tay tôi lần theo mép gỗ dưới chân bàn. Chiếc bàn do chính tôi đóng hơn ba mươi năm trước, có một ngăn kín. Tấm ván đã bị ai đó tháo ra rồi đóng lại vội vàng. Tôi nhấc tấm ván, bên trong là chiếc chìa khóa nhỏ đã rỉ và mảnh vải ghi hai chữ: hòm cưới.
Tôi tìm thấy chiếc hòm cưới cha vợ cho bà Hòa ngày về làm dâu. Chìa khóa vừa khít. Dưới đáy hòm là cuốn sổ bìa xanh bà Hòa từng dùng ghi tiền bán thóc. Những trang đầu là con số quen thuộc. Từ giữa sổ, nét chữ nhỏ hơn, siêu vẹo, nhiều chỗ nhòe như từng dính nước mắt.
Bà ghi từ ngày đất mặt đường tăng giá, Thúy thường hỏi chuyện sang tên. Có hôm con dâu đặt trước mặt bà tập giấy, bảo chỉ là thủ tục mở cửa hàng, nhưng thực chất là giấy đồng ý cho vợ chồng Thành toàn quyền sử dụng phần đất mặt đường. Bà không ký. Thúy không cãi, chỉ nói rồi sẽ có ngày mẹ hiểu ai mới là người chăm sóc mẹ lúc tuổi già.
Bà ghi những lần uống thuốc. Bát th/uốc do Thúy sắc có m/ùi hă/ng. Uống xong đ/au bụ/ng, hoa m/ắt, chân tay lạ/nh. Có lần bà lén đổ th/uốc ra sau vườn thì hôm đó đỡ mệt. Ngày hôm sau Thúy đứng nhìn cho đến khi bà uống hết.
Bà viết rằng Thúy đã hỏi nếu bố mẹ không còn minh mẫn thì ai có quyền quản lý đất. Từ hôm đó bà bắt đầu s/ợ. Bà nghi có người cố tình khiến bà nghĩ chồng mình hay quên, lấy tiền và g/iấu đồ. Bà viết rằng tôi nóng tính nhưng không phải người x/ấu. Nếu sau này có chuyện gì xảy ra, mọi người đừng vội tin những điều người ta nói về tôi.
Tôi úp cuốn sổ vào ngực, nước mắt trào ra. Suốt mười năm, điều tôi mong nhất không phải tiền bạc hay một lời xin lỗi mà chỉ là có ai đó tin rằng tôi không g/i/ết v/ợ. Vậy mà chính bà Hòa đã để lại những dòng chữ ấy.
Lật đến những trang cuối, bà ghi rằng đã nhìn thấy T/húy đổ b/ột từ gói nilon vào ấm thuốc. Bà còn nghe con dâu nói chuyện điện thoại với ai đó về giấy chuyển nhượng và việc phải làm cho tôi trở thành người đáng ngờ. Bà viết sẽ tìm cách ghi lại cuộc nói chuyện rồi giấu bằng chứng ở một nơi chỉ tôi mới biết. Dòng cuối cùng còn nguyên vẹn là lời dặn rằng nếu bà xảy ra chuyện, hãy kiểm tra chiếc bàn thờ do tôi đóng.
Ngay sau trang ấy là một vết rách. Có người đã xé mất ít nhất một trang. Trên phần giấy sát gáy còn sót vài nét mực, có một chữ giống tên Thành và một dòng bắt đầu bằng chữ “con đã thấy”.
—
Lan – con dâu út – tìm đến căn phòng cạnh kho. Nó kể khoảng một năm sau khi tôi bị b/ắt, đêm hôm ấy nó xuống bếp lấy nước thì nghe tiếng Thành và Thúy cãi nhau trong gian kho. Thành nói rằng nó đã nhìn thấy vợ đổ một thứ bột màu trắng vào ấm thuốc của mẹ. Thúy không phủ nhận ngay, chỉ hỏi chồng đã nhìn thấy từ lúc nào và tại sao đến giờ mới dám nhắc lại.
Theo những gì Lan nghe được, buổi chiều trước đêm bà Hòa mất, Thành về nhà sớm. Nó đi xuống bếp và nhìn qua khe cửa thấy Thúy đổ bột vào chiếc cha/i thủy tinh. Thành hỏi thì Thúy nói đó là thu/ốc b/ổ theo đơn. Nó nghi ngờ nhưng không kiểm tra.
Sau khi bà Hòa ch/ế/t và tôi bị b/ắt, Thành bắt đầu nối lại những điều bất thường. Khi Thành đòi lên công an khai lại, Thúy thay đổi hoàn toàn. Nó lấy ra một tập giấy v/ay n/ợ và những hợp đồng có chữ ký của Thành. Hóa ra vợ chồng nó đã vay một khoản tiền rất lớn. Có vài hợp đồng mang chữ ký gi/ả. Thúy dọa nếu Thành khai chuyện g/ói bột, nó sẽ công khai toàn bộ hồ sơ vay n/ợ và nói chính Thành là người chỉ đạo làm giấy g/iả để chi/ếm đất. Nó còn dọa rằng nếu một người bị bắt, cả hai sẽ cùng vào t/ù, con trai họ sẽ mất cả cha lẫn mẹ.
Thúy còn đáp: “Nếu mẹ chịu ký giấy thì không ai phải ch/ết.”………….
—
Tôi tìm Thành. Nó đang ngồi một mình trong kho. Tôi hỏi vì sao con biết bố có thể bị oan vẫn đứng trước tòa làm chứng chống lại bố. Thành cúi đầu rất lâu rồi bật khóc. Nó nói hôm ấy chỉ nhìn thấy Thúy đổ bột vào chai, không biết đó là chất độc. Khi mẹ chết, nó quá hoảng loạn. Thúy liên tục khẳng định chính tôi đã đưa thuốc cho bà Hòa. Từ lúc nghe vợ thừa nhận “nếu mẹ ký giấy thì không ai phải chết”, nó biết mình đã sai, nhưng mọi thứ đã quá muộn.
Thành thú nhận từng tìm thấy cuốn sổ sau đám tang. Trang cuối ghi rằng bà Hòa đã nói chuyện với con trai cả, hỏi con có nhìn thấy Thúy bỏ bột vào thuốc hay không. Bà viết rằng Thành im lặng và tránh ánh mắt của mẹ. Thành đã xé trang ấy rồi giấu cuốn sổ xuống đáy hòm.
Tôi nói: “Từ hôm nay bố không cần con quỳ xin tha. Điều bố cần là con đứng lên chịu trách nhiệm.”
—
Ngoài sân vang tiếng xe máy của Thúy. Nó về sớm hơn mọi ngày, tay cầm một túi hồ sơ màu đen, tiến thẳng đến gian thờ. Tôi và Thành bước theo. Thúy đang quỳ dưới chân bàn, một tay lần vào mép gỗ. Tôi giữ lấy cổ tay nó và hỏi đang tìm thứ gì. Nó giật tay ra nói bàn thờ bị mối mọt. Tôi bảo chiếc bàn này do chính tay tôi đóng, loại gỗ mít đã khô hàng chục năm không có dấu mối.
Tôi lấy chiếc đục mỏng lần theo mộng gỗ phía dưới. Khi tấm gỗ bật ra, một gói vải nhỏ rơi xuống lòng bàn tay. Bên trong là một chiếc máy ghi âm nhỏ đã cũ. Cạnh máy có mảnh giấy do bà Hòa viết: “Nếu ông đang tìm thấy thì hãy nghe hết. Đừng tin bất kỳ ai trước khi nghe hết.”
Khi lắp pin mới, giọng bà Hòa vang lên. Bà hỏi con dâu tại sao ép bà ký giấy sang tên đất. Thúy đáp vợ chồng nó đã nợ quá nhiều. Bà Hòa nói đất phải chia đều. Thúy đổi giọng bảo mẹ đừng ép nó phải làm điều không muốn. Bà Hòa hỏi những gói bột cho vào thuốc là gì. Thúy nói mẹ chỉ cần uống ngoan, trí nhớ sẽ yếu dần. Khi ấy việc lấy dấu tay và ký giấy sẽ dễ hơn.
Trong đoạn sau, bà Hòa hỏi nếu bà chết thì Thúy định làm gì. Thúy nói mọi thứ đã được chuẩn bị. Chiếc chai có dấu tay của tôi. Những đoạn ghi âm lúc tôi nổi nóng. Tiền và đồ đạc được giấu trong buồng. Lời đồn ngoài làng. Tất cả đều khiến người ta tin tôi là người chồng độc ác. Nó còn nói lá thư tuyệt mệnh đã có sẵn dấu điểm chỉ của bà Hòa, lấy từ lần bà ngủ mê vì thuốc.
Rồi sự thật cuối cùng xuất hiện. Thúy nói sau khi có được đất và mở rộng cửa hàng, nó đã chuẩn bị sẵn một đồng bảo hiểm đứng tên chồng, vài giấy tờ chuyển quyền kinh doanh sang cho nó. Chỉ cần Thành xảy ra một vụ tai nạn trên đường chở vật liệu, toàn bộ cửa hàng, tiền bảo hiểm và phần đất sẽ nằm trong tay Thúy.
Thành bật dậy, nhìn vợ như người xa lạ. Hóa ra trước khi tôi trở về vài tháng, xe của Thành từng mất phanh khi xuống dốc. May nó đánh lái vào ruộng nên chỉ bị thương nhẹ.
Thúy lao tới giật chiếc máy ghi âm. Túi hồ sơ màu đen rơi xuống, giấy tờ bung ra. Trong đó có hợp đồng bảo hiểm của Thành, giấy chuyển nhượng quyền kinh doanh và bản sao các giấy vay nợ có chữ ký bị làm giả.
Nam dùng điện thoại ghi lại toàn bộ rồi gọi công an. Khi lực lượng chức năng đến, tôi giao chiếc máy ghi âm, cuốn sổ và toàn bộ giấy tờ. Thành cũng tự nguyện khai lại những gì đã nhìn thấy. Thúy bị đưa ra khỏi sân. Người làng tụ tập hai bên đường, im lặng nhìn chiếc còng khóa vào tay người con dâu từng khóc lóc trước linh cữu mẹ chồng.
—
Bản án cũ bị hủy. Danh dự của tôi được khôi phục. Tôi bán một phần đất mặt đường, giữ lại nhà thờ và khu vườn cũ. Tiền bán đất dành một phần hỗ trợ cháu nội học hành, một phần lập quỹ giúp những gia đình có người bị kết án oan.
Ngày dọn bàn thờ bà Hòa trở lại gian chính, tôi tự tay lau từng thanh gỗ. Tôi đặt di ảnh vợ ở nơi sáng nhất, thắp hương kể cho bà nghe sự thật đã rõ, rằng Thành đã cúi đầu nhận lỗi. Khói hương bay lên chậm rãi. Ánh nắng ngoài sân chiếu qua cửa. Tôi bỗng nhớ những buổi chiều bà ngồi nhặt rau bên hiên, miệng trách tôi làm việc quên giờ ăn.
Bây giờ tôi đã bảy mươi mốt. Buổi sáng tôi ngồi trước hiên, uống trà, nghe tiếng cháu nhỏ học bài. Có lúc nhìn ánh nắng rơi trên nền gạch, tôi lại nhớ căn nhà cũ, nhớ bà Hòa. Nỗi đau vẫn còn, nhưng tôi không muốn những năm tháng cuối đời chỉ dùng để tiếc nuối.
Tôi được trả lại danh dự nhưng vẫn là người chồng không cứu được vợ. Người cha có con trai phải trả giá vì hèn yếu. Điều duy nhất tôi có thể làm là sống phần đời còn lại cho tử tế, giữ hương khói cho bà Hòa, và dùng những gì mình có để giúp người khác không phải cô độc như tôi từng cô độc.





