Tôi tên Nguyễn Minh Sơn, năm nay gần ba mươi tuổi. Câu chuyện tôi sắp kể đã bắt đầu từ khi tôi còn là một đứa trẻ bảy tuổi, ngày bố tôi mất trong một tai nạn lao động. Mẹ tôi – người phụ nữ tên Hiền – đã chọn ở lại nhà ông bà nội để chăm sóc hai cụ, dù lúc đó bà nội chẳng mấy thiện cảm với mẹ. Còn ông nội, ông Nguyễn Văn Cẩn, tuy ít nói nhưng luôn nhìn thấu mọi chuyện.
Suốt hai mươi năm, mẹ tôi tần tảo. Bà dậy từ sáng sớm nấu cơm, đưa bà nội đi khám, chăm ông nội khi ốm đau. Những bữa cơm gia đình, mẹ thường nhường phần ngon cho người khác. Tôi còn nhớ có lần mẹ sốt cao vẫn cố nấu cháo cho bà nội, bà nội ăn một thìa rồi bảo nhạt. Tôi định cãi nhưng mẹ đã nhẹ nhàng kéo tay tôi dưới gầm bàn. Mẹ dạy tôi: “Có việc làm bằng tay thì người ta nhìn thấy, có việc làm bằng lòng thì phải sống lâu mới biết.”
Ông nội tuy ít nói nhưng luôn bênh mẹ bằng những cách rất riêng. Có lần bà nội trách mẹ dùng bàn là may đồ tốn điện, ông nội liền nói: “Cái bàn là của nó, dùng kiếm tiền nuôi cả nhà mà tính từng số điện làm gì?” Ông còn lặng lẽ để tiền dưới máy may cho mẹ khi bà cần, và mẹ luôn trả đủ từng đồng. Ông bảo: “Người sống có trước có sau thì nghèo cũng ngủ ngon.”
Bác cả Trọng và bác hai Nghĩa – hai người con trai lớn của ông bà – tuy ở riêng nhưng thường về nhà. Tôi lớn lên trong căn nhà năm gian ấy, thấy rõ sự thiên vị của bà nội dành cho anh Quang – con trai bác cả, người bà gọi là “cháu đích tôn”. Bà có thể cho anh Quang tiền sửa xe mà chẳng cần hỏi, nhưng mẹ tôi chỉ cần dùng bàn là thêm vài tối đã bị bà mắng vì tốn điện.
Năm 2017, ông nội ốm nặng. Một đêm, ông lên cơn đau tim, mẹ gọi cho hai bác nhưng cả hai đều viện cớ bận. Mẹ đành gọi xe, một mình đưa ông đi cấp cứu. Nằm trên giường bệnh, ông nội nhìn mẹ, khẽ bảo: “Đến lúc nằm xuống mới biết ai thật sự coi mình là bố.” Tôi đứng bên cạnh mà cổ họng nghẹn lại.
Sau khi xuất viện, ông nội gọi bạn cũ là ông Dần và bà Bích – nguyên cán bộ tư pháp – tới làm chứng cho bản di chúc cuối cùng. Ông để lại cho tôi thửa đất số 118 mặt đường và một khoản tiền gửi. Ông còn giấu bản di chúc thật dưới nền căn tròi sau vườn, nơi tôi hay trốn khi còn nhỏ. Ông đưa cho ông Kỳ – người lo liệm – một ống đồng, dặn khi ông mất thì buộc vào cổ tay trái.
Ngày ông nội mất, bác cả và bác hai đã lục tủ tìm được phong bì ghi tên tôi. Họ đốt tờ giấy chỉ dẫn trong bếp. Nhưng anh Quang đã vô tình thấy và chụp lại phần còn lại. Sau đó, bác cả công bố một bản di chúc khác, trong đó không có tên tôi, và yêu cầu mẹ con tôi dọn đi. Mẹ tôi không khóc, bà chỉ nhận lấy chiếc máy may và vài vật dụng, rồi thuê một căn phòng trọ nhỏ. Bà Tư Mão – người hàng xóm – dúi cho mẹ 3 triệu đồng. Mẹ viết giấy vay. Bà Tư bảo: “Cô làm như vay ngân hàng.” Mẹ đáp: “Có vay có trả chị ạ.”
Chín năm trôi qua. Mẹ tôi mở tiệm may, tôi học nghề điện lạnh rồi có công việc ổn định. Cuộc sống tuy vất vả nhưng mẹ con tôi không thiếu ăn. Rồi đến ngày họ bốc mộ cho ông nội. Đêm hôm ấy, khi người thợ bốc mộ nhấc phần xương tay trái của ông lên, một ống đồng nhỏ bọc sáp lộ ra. Tôi nhận ra đó chính là vật ông nội đã dặn ông Kỳ buộc vào tay mình trước khi liệm.
Khi tôi mở ống đồng, bên trong là một mẩu giấy ghi:………
“Nếu thư trong ngăn bàn không đến tay cháu, hãy trở lại nơi ngày nhỏ cháu thường trốn bà. Đừng tin người khóc.” Tôi đọc xong, hai bác lao ra khỏi hàng che, định giật mẩu giấy. Mẹ tôi đứng chắn trước tôi, bà bị bác hai đẩy suýt ngã xuống huyệt. Tôi nhìn hai bác và hiểu: họ đang sợ một điều gì đó.
Tôi đưa mọi người về nhà cũ, đào dưới gốc cây khế nhưng không có gì. Bà Tư Mão bảo: “Ông Cẩn đào ở dưới nền nhà kho cũ, gần căn tròi.” Tôi lập tức nhớ đến nơi mình hay trốn ngày nhỏ. Chúng tôi đập nền xi măng, đào sâu hơn một mét thì thấy một chiếc hộp sắt nhỏ. Trong hộp có bản di chúc thật, cuộn băng ghi âm lời ông nội, một phong thư gửi mẹ, và một cuốn sổ tay.
Luật sư Phương giúp tôi bảo quản tài liệu. Bà Bích – người làm chứng – từ Tây Nguyên trở về xác nhận bản di chúc đúng là của ông nội. Chị Hà – con bác hai – đưa ra file ghi âm cuộc trò chuyện của hai bác về việc sửa đổi di chúc. Anh Quang đưa tôi mẩu giấy cháy dở chụp từ năm 2017. Mẹ tôi còn đưa ra cả sổ khám bệnh của ông nội và những hóa đơn thuốc bà từng giữ.
Trong cuộc họp gia đình, ông Mậu trưởng họ nghe hết rồi nói: “Mặt mũi dòng họ không nằm trong sổ đỏ.” Bác cả vẫn cố bảo vệ mình bằng chữ “con trưởng”, nhưng không ai còn tin.
Cuối cùng, tòa án công nhận bản di chúc ông nội để lại. Tôi nhận được thửa đất và khoản tiền ông dành cho mình. Bác cả và bác hai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trước khi mọi chuyện kết thúc, tôi cùng mẹ ra cây khế, đào một hố nhỏ và đặt chiếc chìa khóa đồng đã theo ông suốt chín năm xuống đó. Mẹ thắp một nén nhang và tôi khẽ nói: “Ông ơi, lần này mẹ con cháu không phải trốn nữa.”
Chiếc đồng hồ quả lắc của ông nội suốt nhiều năm im lặng, bỗng tích tắc bốn tiếng rồi thôi. Tôi nhìn bóng mẹ đứng dưới tán khế già, nơi ông nội từng cầm củ khoai nướng và dạy tôi cách tìm mật thư, nơi ông gõ nhẹ lên bậc gỗ và nói: “Có khi thứ người ta tưởng là chỗ trốn lại là chỗ cứu mình.”
Tôi hiểu rằng thứ ông để lại quý nhất không phải miếng đất hay tiền bạc, mà là cách ông buộc chúng tôi phải đi đến tận cùng sự thật mà không biến thành những người giống kẻ đã làm mình đau. Ở đời, cha mẹ có thể nghèo tiền nhưng đừng nghèo sự công bằng, bởi một lần thiên vị cũng có thể để lại vết rạn giữa anh em suốt cả đời.




