Vừa Xuất Ngũ Trở Về, Tôi Bị Bố Đuổi Khỏi Nhà, Không Ngờ Phía Sau Cánh Cổng Là Một Bí Mật Động Trời

Vừa Xuất Ngũ Trở Về, Tôi Bị Bố Đuổi Khỏi Nhà, Không Ngờ Phía Sau Cánh Cổng Là Một Bí Mật Động Trời

Tôi chưa kịp đặt ba lô xuống sân thì bố đã bước ra, đứng chắn ngay trước cửa nhà. Ông nhìn tôi, giọng lạnh như nước giếng đầu đông: “Nhà này không còn chỗ cho mày.”

Tháng năm năm 2019, tôi ba mươi hai tuổi, vừa xuất ngũ. Suốt chuyến xe khách từ tỉnh về huyện, tôi chỉ nghĩ tới bữa cơm đầu tiên ở nhà: cá kho của mẹ, bát canh rau tập tàng sau vườn, lọ cà muối bố vẫn đặt cạnh mâm. Mưa bụi lất phất, mùi rơm lẫn khói bếp theo gió lùa vào cửa kính, thứ mùi nhiều đêm nằm giữa đơn vị tôi chỉ cần nhớ tới là thấy lòng dịu lại.

Tôi đâu biết căn nhà mình mong trở về nhất lại là nơi không cho tôi bước vào.

Cánh cổng sắt vẫn thế, sơn xanh bong từng mảng. Tôi đẩy cổng, gọi “Mẹ!”. Mẹ chạy từ bếp ra, tóc bạc thêm nhiều, nhưng nét mặt ấy không giống vui mừng. Nó giống người đã chờ ngày này rất lâu, đến khi ngày ấy tới lại thấy sợ.

Em trai tôi, Tuấn, đứng bên hiên cạnh vợ nó là Hạnh. Nó chỉ buông một câu: “Anh về rồi à?” Hạnh cúi mặt. Rồi bố bước ra. Ông gầy, nhưng vẫn rắn rỏi. Ông không hỏi tôi đi đường có mệt không, không hỏi đã ăn gì chưa. Tôi cười gượng bảo để con cất đồ đã, có gì bố con mình nói sau. Ông bước tới chặn cửa. Câu nói kia rơi xuống sân nhà im phăng phắc.

Mẹ run giọng: “Ông nói cái gì vậy? Nó là con mình!” Bố quát bà vào trong. Tôi hỏi nếu con có lỗi thì bố cứ nói. Ông siết hàm, chỉ đáp: “Tao nói thế nào thì cứ thế mà làm.”

Tôi từng quen với mệnh lệnh, quen nuốt cảm xúc xuống để giữ bình tĩnh. Nhưng chẳng bài huấn luyện nào dạy một người con phải làm gì khi chính bố mình không cho bước qua cửa. Tôi nắm bàn tay gầy của mẹ, bảo bà đừng cãi bố vì con, rồi xách ba lô đi. Ra tới cổng, tôi còn hy vọng nghe một tiếng gọi. Chỉ cần ông gọi “Hưng, quay lại”, tôi sẽ quay lại ngay. Nhưng chỉ có tiếng cổng sắt khép lại, khô khốc.

Đêm ấy tôi ngủ nhờ căn trọ nhỏ gần chợ huyện, nằm nhìn mái tôn ong ong tiếng xe máy, trong đầu cứ hiện ra ánh mắt bố. Không chỉ có giận dữ. Còn có thứ gì đó giống như đề phòng.

Sáng hôm sau mẹ xách làn cơm tới, còn nóng, có thịt rang và lọ cà muối nhỏ. Tôi hỏi bố bắt đầu như vậy từ bao giờ. Bà im lặng rồi đáp: “Khoảng nửa năm nay.” Trước đó ông còn bảo bà dọn lại cái giường cũ, không biết khi nào thằng Hưng về. Rồi mẹ nói thêm, nhỏ như sợ tường nghe thấy: có đêm bà nghe ông lẩm bẩm, “Con mà về thì nhà sẽ chẳng còn yên.”

Tôi đặt đũa xuống. Một người cha từng mong con về lại bắt đầu sợ chính ngày con về, từ nửa năm trước. Chắc chắn đã có chuyện xảy ra trong lúc tôi vắng nhà.

Tôi không quay lại cổng nhà nữa. Tôi bốc hàng ở chợ, quen chú Năm chạy xe ôm, rồi thuê căn nhà cấp bốn cũ cạnh chợ, mở quán ăn nhỏ. Đầu năm 2020, một đêm mưa lạnh, khi tôi đang kéo ghế vào trong, Tuấn đứng nép dưới mái hiên bên kia đường, quần áo ướt sũng, mắt thâm quầng. Nó bước sang, giọng khản đặc: “Anh cứu em lần này được không?”

Nó mắc nợ. Con số khiến tôi đặt cốc nước xuống. Anh vợ nó là Vinh rủ góp vốn xưởng gỗ, nó bỏ thêm tiền hết lần này đến lần khác vì không dám dừng. Hỏi vì sao liều thế, nó bật cười nhạt: “Anh biết từ bé người ta nói gì về em không? Anh Hưng học hành đàng hoàng, Tuấn phải học anh. Anh Hưng đi bộ đội trưng trực, Tuấn phải nhìn anh mà sống.” Tôi chết lặng. Vinh chỉ cần đánh đúng chỗ ấy: làm được vụ này thì chẳng ai gọi cậu là em thằng Hưng nữa.

Rồi nó ngập ngừng, nói nốt điều giấu kỹ nhất. Để vay tiền, nó đã mang bản sao giấy tờ nhà của bố mẹ ra chứng minh tài sản. Nó lấy tập giấy trong túi nilon. Tôi kéo đèn lại gần, lật từng trang. Một tờ có chữ ký bố. Tôi nhìn rất lâu. Bàn tay phải bố từng bị thương, mỗi lần ký đến một nét nhất định ông lại dừng khẽ rồi mới viết tiếp. Chữ ký trước mặt tôi trơn tru hơn hẳn.

“Bố biết chuyện rồi,” Tuấn cãi. Tôi đáp: “Biết chuyện và tự tay ký là hai việc khác nhau.” Nó bật dậy, tôi vẫn bảo sáng mai anh sẽ về gặp bố. Đêm ấy tôi có cảm giác cánh cổng sắt hôm xuất ngũ và món nợ của Tuấn không phải hai chuyện tách biệt. Có một sợi dây nào đó đang nối chúng lại, mà tôi chưa thấy đầu dây nằm ở đâu.

Sáng hôm sau tôi về nhà. Bố ngồi bên bàn uống nước. Tôi đặt tập giấy xuống hỏi chữ ký này có phải của bố không. Ông đáp ngay: “Có.” Không nhìn lại, không đọc. Hỏi nhớ ký lúc nào, ông bảo không nhớ. Tôi nói chậm từng câu, rằng nếu bố muốn bán nhà lo cho Tuấn thì con không tranh một mét đất, chỉ xin cả nhà biết rõ mình đang trả món nợ nào cho ai. Mặt ông đỏ bừng: “Mày đi biền biệt bao năm, về mấy hôm đã muốn quản cả nhà này à?”

Đúng lúc ấy mẹ buột miệng: “Thật ra trước đây thằng Vinh cũng mang giấy tới mấy lần.” Bố quay phắt lại: “Bà im đi!” Tôi nhìn ông. Ông đâu chỉ tức giận. Ánh mắt ấy có cả lo lắng lẫn che giấu. Tôi quay đi, vừa được vài bước thì nghe rầm một tiếng sau lưng. Chiếc ghế đổ. Bố đang vịn mép bàn, bàn tay phải run nhè nhẹ, run kiểu của người đang sợ chứ không phải kiểu của tuổi già. Tôi lao tới đỡ, ông gạt tay tôi ra: “Tao không sao.”

Ra tới cổng, tôi hiểu thêm một điều. Cơn giận bố dành cho tôi, chưa chắc đã bắt đầu từ tôi.

……………………………………………

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇

Tối hôm sau, Tuấn bắt gặp Hạnh giấu một chiếc túi hồ sơ nâu trong tủ. Nó giằng lấy, hai vợ chồng cãi nhau dữ dội, và nó bảo Hạnh đưa con về ngoại. Mà nhà ngoại là nhà Vinh. Mẹ khóc nói với tôi chuyện ấy, tôi nhận mẹ con Hạnh về ở phòng sau quán, vài hôm thôi, vì thằng bé bốn tuổi có tội gì.

Lời ra tiếng vào nổi lên chỉ sau hai ngày. Chú Năm ngồi xuống không gọi trà: người bảo tôi bênh em dâu, người bảo tôi về để đòi chia đất, người bảo tôi mắc nợ nên bố không cho vào nhà. Mỗi chuyện đều có một chút gì đó giống sự thật đủ để người ngoài dễ tin. Tối đến Tuấn xông vào quán túm cổ áo tôi, mắt đỏ ngầu: “Anh lúc nào cũng làm người tốt!” Tôi chỉ hỏi: “Mày đánh anh xong thì nợ tự hết à? Vợ mày bớt khổ à? Con mày vui hơn à?” Bàn tay nó lỏng dần rồi buông.

Đêm ấy, gần mười một giờ, Hạnh bước ra, hai tay xoắn vào nhau. Cô nói trước khi Tuấn góp tiền, xưởng của Vinh đã có vấn đề, cô biết một phần mà im lặng vì mẹ cô đang sống cùng Vinh. Tôi dặn cô tách rõ điều tận mắt thấy, điều nghe kể, điều chỉ là đoán. Rồi cô đưa tôi một tờ giấy: “Cái này em không hiểu.”

Tôi đọc tới dòng tên người vay thì tay khựng lại. Trần Văn Hưng. Một khoản vay mang tên tôi, lập vào thời điểm tôi còn đang phục vụ trong quân đội. Tôi chưa từng về quê, chưa từng ký.

Tôi ngồi bất động rất lâu. Bố đổi thái độ nửa năm trước ngày tôi xuất ngũ. Vinh từng tới gặp bố khi tôi còn ở đơn vị. Giờ lại có một tờ giấy mỏng như hai ngón tay xé được, mang tên tôi. Có khi nào bố không ghét tôi? Có khi nào ông đã nhìn thấy thứ gì đó khiến ông tin đứa con trai cả sắp mang tai họa về nhà?

Sáng hôm sau tôi đưa tờ giấy cho Tuấn. Câu nó hỏi lại khiến tôi đau hơn cú túm cổ áo hôm trước: “Có khi nào anh nhờ người khác vay hộ không? Hay anh ký từ trước rồi quên?” Ngay cả em ruột cũng đã chừa một khoảng trong lòng để nghi ngờ tôi. Tôi lấy giấy tờ thời gian phục vụ trong quân đội đặt trước mặt nó. Nó xem rất lâu, rồi nhỏ giọng: “Vậy ai lấy thông tin của anh?” Tôi bảo chưa có chứng cứ thì đừng kết luận.

Tôi tìm tới xưởng của Vinh. Anh ta cười, nhìn tờ giấy rồi nói: “Cậu ở xa lâu như thế, có khi từng nhờ ai đó làm việc rồi quên.” Gần như giống hệt lời Tuấn. Anh ta không thừa nhận, nhưng cũng không hề ngạc nhiên khi thấy tờ giấy. Khi tôi quay đi, anh ta nói với theo: “Người ở xa mới về, tốt nhất đừng nghe một phía rồi xen sâu quá.”

Chiều hôm sau Lan tới quán một mình. Cô nói ở trường có phụ huynh hỏi cô về tôi, và bé Thư đã hỏi: “Chú Hưng có phải người xấu không? Sao người lớn bảo chú ấy giành nhà của ông bà?” Cô nhìn tôi nghẹn giọng: “Em tin anh, nhưng em còn là mẹ. Anh định im lặng đến bao giờ?” Cô không bỏ tôi, chỉ không thể dắt Thư bước sâu hơn vào cuộc đời một người còn đứng ngoài cuộc đời mình. Khi cô đi, tôi đứng giữa quán rất lâu. Lần đầu tôi nhận ra sự nhẫn nhịn của mình đang cho cái sai thêm thời gian lớn lên.

Rồi một đêm, điện thoại tôi đổ chuông dồn dập. Giọng mẹ nghẹn lại: “Bố con mất tích rồi. Ông để lại một dòng chữ: chuyện do bố gây ra, để bố tự giải quyết.” Tôi chạy về khi trời chưa sáng hẳn. Mẹ nói bố hay ra mộ ông nội mỗi khi có chuyện lớn. Tôi mượn xe chú Năm, phóng giữa màn sương mỏng.

Bố ngồi trên bậc xi măng trước mộ, lưng dựa vào thành, hai tay ôm gối. Tôi ngồi xuống cách ông một khoảng, châm mấy nén hương. Một lúc lâu bố mới nói: “Tao sợ chúng mày thành kẻ thù.” Ông kể về những người bác tôi cãi nhau vì mảnh đất sau khi ông nội mất. Tôi hỏi: “Bố sợ mất hai đứa con, vậy sao ngày con về bố lại tự tay đẩy một đứa ra ngoài?” Ông cúi đầu, không đáp.

Tối hôm ấy, khi mẹ lấy thuốc huyết áp cho bố, một vật rơi xuống nền gạch. Keng. Một chiếc chìa khóa nhỏ buộc dây đỏ bạc màu. Bố nhìn nó, im lặng rất lâu, rồi nói: “Chìa cái hòm. Đưa cho thằng Hưng.”

Tôi mở chiếc hòm gỗ giữa phòng, trước mặt cả nhà. Tôi tưởng sẽ thấy sổ đỏ, tiền bạc, giấy nợ. Nhưng thứ đầu tiên hiện ra là một sấp thư. Nét chữ của chính tôi. Những lá thư tôi gửi về từ đơn vị, mềm đi ở các góc gấp vì được mở đi mở lại. Bên dưới là ảnh tôi mặc quân phục, ảnh cả nhà, rồi tờ giấy báo tôi bị thương năm nào, được ép phẳng giữa hai lớp bìa. Hóa ra có những người cha cả đời không biết nói một câu mềm, thương con cũng giấu, lo con cũng giấu.

Dưới cùng là tập giấy buộc dây. Bố chống tay ngồi dậy kể: Vinh tới nhà nhiều lần, ban đầu chỉ nhờ ông xác nhận chuyện góp vốn của Tuấn. Sau đó bắt đầu nhắc tới tôi. Hưng ở ngoài nhiều năm, có giao du với ai không. Hưng sắp về, chia đất tính sao. Rồi anh ta đưa ông xem một tờ giấy có tên tôi cùng một khoản tiền, bảo nếu tôi về, chuyện nợ nần có thể kéo tới nhà. Phải cẩn thận, đừng vì một đứa mà cả nhà mất chỗ ở.

Tôi hỏi: “Ngày con về bố đuổi con vì sợ con đòi đất hay sợ người ta tới đòi nợ?” Ông nhắm mắt: “Cả hai.” Mẹ khóc nấc: “Sao ông không hỏi thằng Hưng lấy một câu?” Ông đáp rất khẽ rằng ông tưởng đẩy một đứa ra trước thì giữ được cả nhà. Cuối cùng chính ông làm nứt ngôi nhà trước tiên. Rồi người cha cả đời hiếm khi nhận sai nói ba chữ rất nhỏ: “Bố sai rồi.”

Tôi tưởng mình sẽ giận. Nhưng nhìn ông, tôi chỉ thấy câu trả lời đã quá rõ. Bố không ghét tôi. Ông sợ.

Sáng hôm sau cả nhà ngồi đối chiếu từng khoản. Khoản nào Tuấn tự ký, tự nhận tiền thì nó chịu. Tờ nào có điểm bất thường thì đánh dấu riêng, không ai được thêm một chữ. Tuấn thú nhận cuối cùng: “Em muốn một lần bố nhìn em khác đi.” Tôi nói xin lỗi vì trước giờ không hiểu nó mang chuyện đó nặng đến vậy, nhưng chữ ký của nó vẫn là chuyện của nó. Tối ấy tôi bắt gặp mẹ ngồi đếm số tiền dưỡng già trong hộp thiếc, gom vào chiếc túi vải định mang cho Vinh. Tôi nắm tay bà: “Nhà mình đang cháy vì mọi người cứ giấu nhau. Mẹ đừng lấy tiền phủ thêm lên đám cháy.” Bố đứng ở cửa, nói: “Nó nói đúng.”

Rồi tôi hẹn Vinh tới quán, có Tuấn và Hạnh. Tôi đặt từng tờ xuống bàn, cho anh ta cơ hội giải thích. Anh ta cười, né tránh, rồi bất ngờ hạ giọng: “Ở cái chợ này làm ăn còn phải nhìn trước nhìn sau.” Tôi đáp tôi không lùi. Hôm sau Hạnh tự sang nhà anh trai, nơi mẹ cô ngồi khóc: “Con chọn chồng hay chọn anh trai?” Hạnh run giọng nhưng không im nữa: “Con chọn không nói dối nữa.”

Gia đình tôi mang tài liệu tới cơ quan có thẩm quyền, trình bày đúng phần mình biết, đề nghị xác minh phần bất thường. Không ai kết luận ngay. Mọi thứ chậm, khô khan, từng ngày tháng, từng chữ ký, từng lời khai. Xưởng của Vinh dần đóng cửa, anh ta phải đối diện phần việc của mình. Hạnh khóc suốt quãng đường về sau lần gặp anh trai, nhưng cô nói: “Thương một người đâu có nghĩa là phải giúp họ trốn khỏi hậu quả.”

Tuấn bán chiếc xe máy, đi làm lương tháng, ghi từng khoản trả nợ vào sổ. Hạnh dọn về nhà thử một thời gian, không phải vì ai khuyên, mà vì nhiều tháng nó chứng minh bằng việc làm. Mẹ không còn giục. Bố không còn hỏi đã trả được bao nhiêu, chỉ hỏi: “Hôm nay đi làm có mệt không?”

Một chiều, bố chống gậy bước vào quán, đặt vào tay tôi một chiếc chìa khóa mới sáng bóng. “Bố thay ổ khóa cổng rồi.” Tôi biết khóa cũ chưa hỏng. Một lúc sau ông nhìn ra đường, nói rất chậm: “Ngày con về, bố đứng ngoài cổng đuổi con đi. Giờ con tự mở mà về.” Không có lời xin lỗi thứ hai, không có cái ôm. Với người cha ấy, chừng đó là đủ.

Tối đó tôi đi bộ về. Cũng con đường tôi từng bước qua ngày xuất ngũ. Tôi tra chìa vào ổ, cánh cổng mở ra. Mẹ bưng mâm cơm ra gọi: “Hưng về rồi à, rửa tay ăn cơm.” Thằng bé chạy ra ôm chân tôi. Bữa cơm chỉ có cá kho, canh rau, đĩa cà muối, đúng thứ tôi mong từ gần hai năm trước, chỉ là phải đi một vòng quá dài mới ngồi được vào mâm.

Sau này tôi tìm lại Lan, đứng chờ trước cổng trường, nói anh sẽ không bắt em đứng ngoài cuộc đời anh nữa. Mắt cô đỏ lên, cô bật cười. Chúng tôi cưới nhỏ, vài mâm cơm. Đêm ấy, Thư chạy tới hỏi: “Con gọi chú là bố được không?” Tôi chưa kịp trả lời thì Lan ở phía xa đã quay mặt đi lau nước mắt.

Cuối năm, Tuấn hỏi tôi hết giận nó chưa. Tôi bảo chưa hẳn. Tha thứ đâu có nghĩa là mình chưa từng đau. Hai anh em khóa quán rồi cùng đi bộ về. Qua cổng nhà, tôi vẫn mang theo chiếc chìa khóa ấy. Trong sân, đèn đã sáng, mẹ gọi cả nhà vào ăn cơm, bố ngồi trên hiên, hai đứa trẻ chạy quanh gốc cây.

Tôi đứng lại ngoài cổng một lúc, nhìn vào. Cánh cổng vẫn là cánh cổng ấy. Chỉ có ở một góc ký ức tôi, tiếng khép lại khô khốc năm nào vẫn chưa bao giờ tan hẳn.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!