CÔNG AN XÃ NHẬN TIN ÔNG LÃO NHẶT VE CHAI LẤY ĐỒ, ĐẾN NƠI BIẾT ÔNG ÂM THẦM LÀM VIỆC KHIẾN CẢ XÓM NGHẸN LỜI…

CÔN/G A/N XÃ NHẬN TIN ÔNG LÃO NHẶT VE CHAI LẤY ĐỒ, ĐẾN NƠI BIẾT ÔNG ÂM THẦM LÀM VIỆC KHIẾN CẢ XÓM NGHẸN LỜI…


Tôi là Khoa, hai mươi tám tuổi, công an xã về công tác ở xã Tân Lộc được bốn năm. Bốn năm ấy, việc tôi làm nhiều nhất là hòa giải chuyện con gà bới vườn rau, chuyện bờ rào lấn sang đất hàng xóm, chuyện ông này mượn cái cuốc chưa trả. Tôi quen với những vụ nhỏ như hạt cát. Nhưng có một buổi sáng, một vụ nhỏ như hạt cát ấy đã khiến tôi đứng lặng rất lâu giữa một xóm nghèo và không nói được lời nào.

Sáng hôm đó, trời mới mờ sương. Tôi vừa uống xong ly cà phê sữa đá ngoài cổng trụ sở thì điện thoại reo. Giọng bà Sáu Nhàn, chủ tiệm tạp hóa đầu xóm Cầu Ván, oang oang như loa phường:

“Cậu Khoa ơi, cậu ra gấp! Cái ông ve chai cuối xóm lại lấy đồ nhà tôi rồi! Hôm qua tôi dựng cái xe đạp cũ ngoài hàng rào, sáng nay mất tiêu. Chắc chắn là ổng! Cả xóm ai cũng thấy ổng cứ lảng vảng nhà người ta từ khuya!”

Tôi hỏi sơ qua. Bà Sáu nói thêm: không chỉ nhà bà, mấy tháng nay nhiều nhà trong xóm bị mất những món đồ bỏ ngoài sân: cái xe đạp hỏng sên, chiếc bánh xe cũ, một bộ ghế sắt gỉ, thậm chí cả khung xe lăn của ông cụ nhà anh Tám Quang. Ai cũng chỉ về một người: ông Bảy Lành, sáu mươi tám tuổi, người nhặt ve chai sống một mình trong căn chòi tôn ở cuối con đường đất.

Tôi biết ông Bảy. Ai trong xã cũng biết ông. Một ông lão gầy khô như cành tre, lưng hơi còng, đầu đội chiếc nón lá cũ đã sờn vành, hằng ngày đạp chiếc xe ba bánh chở đầy chai nhựa và sắt vụn đi khắp các xóm. Ông ít nói, gặp ai cũng khẽ gật đầu chào, không hỏi han chuyện ai, cũng chẳng kể chuyện mình. Có người nói ông từ nơi khác dạt về, có người nói ông từng là thợ hàn, nhưng chẳng ai biết chắc. Bốn năm nay, tôi cũng chưa từng nói chuyện với ông quá ba câu.

Tôi lên xe máy, chạy một mạch ra xóm Cầu Ván.

Khi tôi tới nơi, trước cổng tiệm tạp hóa đã có mười mấy người tụ lại. Anh Tám Quang đứng khoanh tay, mặt sầm sì. Bà Sáu Nhàn chống nạnh, tay chỉ thẳng về cuối con đường. Một chị bán rau hạ giọng: “Ổng hiền vậy chứ lòng dạ khó đoán lắm.” Một ông cụ ngồi xe đạp lắc đầu: “Nghèo quá hóa liều. Người ta nói đói ăn vụng, túng làm càn mà.”

Tôi nghe mà thấy khó chịu trong lòng. Nhưng nghề của tôi là nghe cả hai phía, chứ không phải nghe một phía rồi kết luận. Tôi dặn mọi người đứng yên tại chỗ, rồi một mình đi bộ về cuối con đường đất.

Căn chòi của ông Bảy nằm khuất sau hàng tre già, vách ghép bằng tôn cũ, mái lợp tấm bạt xanh đã bạc màu. Sương sớm còn đọng trên lá, mùi đất ẩm lẫn mùi dầu máy và mùi sắt gỉ phảng phất trong gió. Càng đến gần, tôi càng nghe thấy một âm thanh lạ: tiếng “cạch… cạch… cạch…” đều đều, nhẹ nhàng, như tiếng ai đó đang vặn từng con ốc nhỏ.

Trước cửa chòi dựng đầy xe đạp. Tôi đếm sơ cũng phải đến bảy tám chiếc. Chiếc nào cũng cũ, cũ đến mức nhìn đã thấy chỉ còn xứng làm đồ phế liệu. Nhưng lạ thay, chiếc nào cũng sạch bóng, xích được tra dầu, yên được bọc lại bằng miếng vải mới.

Tôi đứng im ở cổng. Tiếng “cạch… cạch…” bỗng dừng lại.

Từ trong chòi, ông Bảy bước ra, tay còn cầm chiếc cờ lê, trán lấm tấm mồ hôi. Thấy bộ đồng phục của tôi, ông khựng lại. Đôi mắt ông, vốn hiền và buồn như mặt nước sâu, thoáng hiện một nỗi hoảng hốt thật khẽ.

“Dạ… chú công an… có chuyện gì vậy?” Giọng ông khàn khàn, run run.

Tôi nói thẳng: “Bác Bảy, có người báo bác lấy đồ ngoài sân nhà họ. Cháu đến để nghe bác nói.”

Ông cúi đầu. Bàn tay cầm cờ lê siết chặt đến trắng bệch. Ông im lặng một lúc lâu, lâu đến mức tôi nghe rõ tiếng chim sẻ chuyền cành trong bụi tre. Rồi ông thở ra một hơi dài, nói nhỏ như sợ ai nghe thấy:

“Chú cứ vào xem hết đi. Xem xong rồi muốn bắt tôi thế nào, tôi chịu. Nhưng xin chú… đừng làm ồn lên trước mặt tụi nhỏ.”

“Tụi nhỏ?” Tôi cau mày. “Tụi nhỏ nào?”

Ông Bảy không đáp. Ông chỉ lặng lẽ kéo tấm màn vải cũ che ngang cửa chòi sang một bên, nghiêng người nhường lối.

Tôi bước vào. Mắt tôi chưa kịp quen với bóng tối, nên tôi rút chiếc đèn pin nhỏ trong túi áo ra bật sáng. Chùm sáng quét qua bức vách tôn phía trong cùng, và ngay khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy tim mình như hẫng đi một nhịp. Tôi đứng chết lặng, bàn tay cầm đèn pin run lên không kiểm soát nổi, vì trên bức vách ấy tôi nhìn thấy…

Mời quý đọc giả đọc PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇

…hàng chục tấm thẻ giấy nhỏ, mỗi tấm được đóng đinh ngay ngắn, viết bằng nét chữ nắn nót, run run nhưng rất cẩn thận. Tấm nào cũng có một cái tên và một dòng ghi chú:

“Bé Na, lớp 4, nhà ở bản Suối Cạn. Xe đạp xanh, yên thấp. Đã thay thắng, thay xích.”

“Cu Tí, lớp 6, đi học xa 7 cây số. Xe đạp đỏ. Đã kiểm tra phanh hai lần.”

“Bé Mai Hương, lớp 2, nhà ngoại nuôi. Xe đạp mini hồng. Giao ngày 15.”

Tôi đếm được bốn mươi mốt tấm thẻ. Bốn mươi mốt đứa trẻ. Bên dưới là một cuốn sổ bìa nhựa cũ, mở ra là những dòng ghi chép tỉ mỉ: ngày nhặt được món đồ, ngày sửa xong, tên đứa trẻ nhận, và cuối mỗi trang đều có cùng một câu viết bằng bút bi xanh: “Phanh đã kiểm tra kỹ. Con đi cẩn thận nhé.”

Ở góc chòi là một bàn làm việc đóng bằng ván cũ, bày la liệt những dụng cụ đã mòn nhẵn: kìm, cờ lê, búa nhỏ, cuộn dây thép, lọ dầu máy dùng gần cạn. Chiếc xe đạp ông đang sửa dở dựng ngay bên cạnh, bánh sau vừa được căn lại. Bên cạnh cũng có cả một chiếc khung xe lăn đã được hàn lại chắc chắn, đánh sơn mới, chờ giao.

“Đó là chiếc xe lăn nhà anh Tám Quang.” Giọng ông Bảy vang lên sau lưng tôi, rất nhẹ. “Ông cụ nhà ảnh bị liệt nửa người, chiếc xe lăn cũ hư bánh nên bỏ ngoài sân. Tôi thấy tiếc, xin… à, không, tôi lấy đi mà chưa kịp xin, chú ạ. Tôi định sửa xong sẽ đem trả. Tôi sai ở chỗ không hỏi chủ nhà trước.”

Tôi quay lại nhìn ông. Ông đứng đó, hai tay buông thõng, dáng người nhỏ bé như muốn thu mình lại cho khuất ánh sáng.

“Bác làm việc này từ bao giờ?” Tôi hỏi, giọng nghẹn lại lúc nào không hay.

“Gần chín năm rồi.” Ông cười, một nụ cười buồn đến thắt lòng. “Mỗi năm tôi sửa được bốn năm chục chiếc. Lấy đồ người ta bỏ đi, ráp lại, đem cho mấy đứa nhỏ nhà xa trường. Tôi không làm gì xấu đâu chú. Tôi chỉ… không muốn đứa nhỏ nào phải đi bộ cả buổi sáng mới tới lớp.”

Tôi định hỏi thêm, thì ánh mắt tôi dừng lại ở một chiếc xe đạp dựng riêng trong góc, che bằng tấm vải bạt. Tôi tiến tới, kéo tấm bạt ra. Đó là một chiếc xe đạp nhỏ, sơn xanh dương đã phai, ghi đông có buộc dải ruy-băng đỏ đã bạc màu. Trên yên xe treo một tấm thẻ giấy ố vàng với nét chữ non nớt của một đứa trẻ: “Con cảm ơn bố.”

Ông Bảy nhìn chiếc xe ấy, và tôi thấy đôi vai ông bắt đầu run.

“Chiếc đó… không phải để cho ai đâu chú.” Ông nói rất khẽ. “Đó là xe của thằng con tôi.”

Tôi quay lại nhìn ông, đợi.

“Hồi đó nó mười một tuổi. Nhà tôi ở xóm khác, cách trường tám cây số. Tôi nghèo, không đủ tiền mua xe mới, đi nhặt một chiếc xe hỏng về sửa cho nó. Nhưng tôi vụng, chỉ lo cho chiếc xe chạy được mà không kiểm tra kỹ cái phanh.” Ông ngừng lại, cổ họng chuyển động như đang nuốt xuống một thứ rất đắng. “Một buổi chiều mưa, nó đạp xe đi học về, xuống con dốc cầu… và nó không bao giờ về tới nhà.”

Gian chòi lặng đi. Ngoài kia, tiếng gió lùa qua bụi tre nghe như một tiếng thở dài rất dài.

“Từ hôm đó, tôi bỏ nghề hàn, bán căn nhà cũ, về đây. Tôi thề với nó, mỗi chiếc xe tôi sửa ra, tôi sẽ kiểm tra phanh đến lần thứ ba, để không có đứa nhỏ nào, không có người cha nào, phải chịu cái buổi chiều như tôi.” Ông đưa bàn tay chai sạn lên chùi mắt. “Tôi không cho ai biết, chú ạ. Vì sợ người ta thương hại. Mà cũng vì… tôi xấu hổ. Tôi là người cha đã không kiểm tra thêm một lần.”

Tôi đứng đó, không nói được tiếng nào. Cổ họng tôi nóng ran. Tôi nhìn bốn mươi mốt tấm thẻ trên vách tôn, nhìn bàn tay chai sạn của ông, nhìn chiếc xe nhỏ có dải ruy-băng đỏ bạc màu, và bỗng một ký ức xa lắc ùa về trong đầu tôi.

Tôi cúi xuống, nhìn thật kỹ vào cuốn sổ ghi chép trên bàn. Tôi lật về những trang đầu tiên, trang của gần chín năm trước. Ngón tay tôi dừng lại ở một dòng chữ:

“Cu Khoa, lớp 6, nhà mẹ đơn thân bán bánh tráng. Xe đạp xanh lá, yên cao. Đã kiểm tra phanh ba lần. Giao ngày 2 tháng 9.”

Tôi ngẩng lên, nước mắt tuôn ra mà tôi không sao ngăn được. Ông Bảy ngơ ngác nhìn tôi.

“Bác Bảy…” Tôi nói, giọng vỡ ra. “Năm cháu mười một tuổi, mẹ cháu bán bánh tráng nuôi hai mẹ con. Cháu đi bộ năm cây số đến trường mỗi ngày. Một sáng đầu tháng chín, có người đặt trước cổng nhà cháu một chiếc xe đạp xanh lá, trên yên có mảnh giấy ghi: ‘Con đi học cẩn thận nhé.’ Mẹ cháu cứ nghĩ là phước trời cho. Chiếc xe đó cháu giữ đến tận bây giờ. Nó vẫn còn ở nhà, treo trên tường, cháu không nỡ cho ai.”

Ông Bảy sững sờ. Đôi môi ông run run, định nói gì mà không thốt nên lời. Rồi ông đưa tay che mặt, bờ vai già nua rung lên từng đợt.

Tôi bước tới, ôm lấy ông. Người ông nhẹ bẫng, xương vai nhọn dưới lớp áo mỏng, mùi dầu máy và mùi nắng phơi quần áo cũ phảng phất trên người. Tôi nghẹn giọng: “Cháu cảm ơn bác. Cháu đã đi tìm người đó suốt chín năm.”


Khi tôi dắt ông Bảy trở ra con đường đất, những người dân vẫn còn tụ tập ở đầu xóm. Bà Sáu Nhàn là người đầu tiên hét lên: “Cậu Khoa! Bắt ổng chưa? Ổng nhận chưa?”

Tôi đứng giữa đường, đỡ ông Bảy bên cạnh, và nhìn thẳng vào từng khuôn mặt. Tôi không to tiếng. Tôi kể lại tất cả, từ bốn mươi mốt tấm thẻ trên vách tôn, những chiếc xe đạp, cuốn sổ ghi chép, cho đến chiếc xe nhỏ có dải ruy-băng đỏ trong góc chòi. Tôi không nhắc đến chuyện của mình. Đến đoạn người con trai mười một tuổi của ông, cả con đường im phăng phắc đến mức nghe rõ tiếng lá tre xào xạc.

Chị bán rau đưa tay lên che miệng. Anh Tám Quang cúi gằm mặt, hai bàn tay siết vào nhau. Bà Sáu Nhàn, người vừa hét lớn nhất, đứng bất động, đôi môi mím chặt, mắt đỏ hoe. Một lúc lâu sau bà nói, giọng nhỏ như gió thoảng: “Trời ơi… bé Na con tôi đang đi chiếc xe xanh đó mỗi ngày. Tôi cứ nghĩ… tôi cứ nghĩ tiệm bà ngoại nó tặng.”

Anh Tám Quang bước tới, quỳ xuống bên ông Bảy, giọng nghẹn đi: “Bác Bảy, cháu xin lỗi. Cháu nghe người ta nói mà không hỏi bác một lời. Chiếc xe lăn của ba cháu… bác còn sửa giúp. Cháu nợ bác một lời xin lỗi và cả một lời cảm ơn.”

Ông Bảy luống cuống đỡ anh dậy: “Thôi, thôi cháu… tại tôi lấy đồ không hỏi trước, tôi mới là người có lỗi…”

Nhưng không ai còn cười hay nói thêm nửa lời trách móc. Chị bán rau lặng lẽ chạy về nhà, một lúc sau quay lại với chiếc xe đạp đã gỉ của con gái chị, dựng cạnh chòi ông, nói nhỏ: “Bác nhận giúp con, để bác sửa cho đứa nào cần.” Rồi ông cụ lúc nãy lắc đầu cũng đi tới, đẩy theo chiếc xe đạp cũ của mình. Rồi thêm một người, thêm một người nữa.

Chỉ trong nửa buổi sáng, trước cửa chòi của ông Bảy đã có mười chín chiếc xe, kèm theo những bao tải phụ tùng, những cuộn dây phanh, bộ vỏ lốp mà người ta lặng lẽ mang đến, không ai nói thêm lời nào.

Tôi quay về trụ sở, báo cáo với Chủ tịch xã toàn bộ sự việc. Ông Chủ tịch nghe xong, im lặng rất lâu, rồi cầm điện thoại gọi cho ban văn hóa. Ba ngày sau, xã dọn lại một gian nhà kho trống cạnh nhà văn hóa, lợp mái mới, kê bàn thợ, lắp điện, treo tấm biển gỗ giản dị: “Xưởng xe đạp của ông Bảy.” Ông Bảy lắc đầu từ chối rất lâu. Ông nói ông không cần xưởng, ông chỉ cần cái chòi cũ. Cuối cùng tôi nói một câu, ông mới chịu gật đầu: “Bác sửa ở xưởng thì mưa gió cũng làm được, để mấy đứa nhỏ khỏi phải chờ lâu.”

Sau đó, một nhóm thanh niên trong xã tình nguyện đến học việc, giúp ông sơn sửa, giao xe tận nhà cho những em nhỏ ở bản xa. Cô giáo trường tiểu học đến xin thêm danh sách các em cần xe. Một chủ tiệm ở thị trấn gửi tặng cả thùng dụng cụ mới. Ông Bảy cầm từng món, xoay đi xoay lại, nói nhỏ: “Trời ơi, đồ mới thế này tôi đâu dám dùng.”

Ngày khánh thành xưởng, ông mặc chiếc áo sơ mi mà bà Sáu Nhàn mang tặng, cổ áo hơi rộng vì ông gầy. Ông đứng trước hàng trăm người dân, hai tay chắp trước ngực, chỉ nói được một câu: “Cảm ơn bà con… Cảm ơn mấy đứa nhỏ… Tôi không dám nhận công gì đâu, tôi chỉ làm cho yên lòng.”

Tối đó, tôi mang chiếc xe đạp xanh lá của mình, chiếc xe tôi giữ suốt chín năm, đến xưởng. Tôi đặt nó cạnh bàn thợ của ông, nói: “Bác sửa cho nó thêm lần nữa nhé. Cháu muốn đem tặng lại cho một đứa nhỏ nào đó trong xóm.”

Ông Bảy nhìn chiếc xe thật lâu. Ông đưa bàn tay chai sạn vuốt nhẹ lên tay lái, như vuốt đầu một đứa trẻ. Ông nói: “Chiếc này giữ lại đi cháu. Nó đã đi tìm được đúng người rồi.”

Tôi không đáp. Tôi chỉ đứng cạnh ông, nhìn ánh đèn vàng trong xưởng hắt lên bức vách có bốn mươi mốt, rồi bốn mươi hai, bốn mươi ba tấm thẻ mới, những cái tên của những đứa trẻ sẽ được đến trường nhờ một người cha chưa từng thôi thương con.

Nhiều năm làm công an, tôi nhận ra có những vụ việc mình đến để “xử lý”, nhưng cuối cùng lại là mình được dạy một bài học. Người ta hay nhìn vẻ bề ngoài để phán xét, nhưng ở nơi không ai để ý, vẫn có những con người lặng lẽ biến nỗi đau riêng thành ánh sáng cho cả một vùng quê. Đừng vội kết luận về một người chỉ vì họ nghèo, họ lặng lẽ, hay họ khác với số đông. Biết đâu, đôi bàn tay lấm lem dầu máy ấy lại đang giữ cho bao nhiêu đứa trẻ một con đường về nhà bình yên.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!