Đêm Tân Hôn Chồng Không Vào Phòng, Sáng Hôm Sau Mẹ Chồng Nói Một Sự Thật Khiến Tôi Sụp Đổ….
Tôi ngồi một mình trên giường cưới êm ái, trong bộ váy đỏ rực, đầu vẫn đội mấn cô dâu lấp lánh. Rèm đỏ thẫm, ga lụa trắng, hoa hồng đỏ cắm đầy bàn trang điểm, nến thơm tỏa hương ngọt. Tôi chờ chồng vào phòng. Tim đập thình thịch, vừa hồi hộp vừa e thẹn. Một tiếng trôi qua, hai tiếng, ba tiếng. Bên ngoài tiếng khách tắt dần. Cả ngôi nhà chìm vào bóng tối. Chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa. Tôi gọi tên Bình. Không có tiếng trả lời. Tôi đứng dậy đi khắp căn nhà ba tầng, gọi đến khản cổ. Anh ấy không ở đâu cả. Đêm tân hôn đáng lẽ hạnh phúc nhất đời tôi, tôi ngồi một mình trong phòng vắng lạnh ngắt như tờ.
Tôi tên Thuần, 29 tuổi, quê Lý Nhân, Hà Nam. Tôi làm nghề thợ may tại gia. Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên trong vòng tay bà ngoại. Bà bán rau ngoài chợ, thức từ ba giờ sáng gánh rau đi bán, một mình nuôi tôi khôn lớn. Căn nhà tranh vách đất cuối xóm, mùa mưa dột, mùa đông gió lùa. Bà dạy tôi từng đường kim mũi chỉ, dạy tôi sống ngay thẳng. Tôi biết may từ năm 12 tuổi, nhận may quần áo phụ bà. Bà mất cách đây ba năm trong giấc ngủ. Đêm trước bà còn nắm tay tôi dặn phải tìm chồng tốt. Sáng hôm sau bà đã đi. Tôi ôm bà gào khóc. Từ đó tôi sống một mình. Sáng nấu cơm ăn một mình, ngồi máy may từ sáng đến tối, chiều đạp xe giao hàng, về nhà ăn cơm nguội một mình. Tôi mặc cảm thân phận mồ côi nghèo khó, không dám mơ hạnh phúc. Chỉ cầu đủ ăn đủ mặc, đủ tiền hương khói cho bà.
Rồi bà Phương xuất hiện. Cách đây hơn một năm, tháng ba, tôi đang may áo dài thì tiếng xe máy dừng trước cổng. Một người đàn bà bước vào, mặc đồ lụa nâu đất đắt tiền, tóc uốn gọn, dây chuyền vàng, vòng ngọc bích. Khuôn mặt đài các nhưng hiền hậu. Bà cười: “Cháu có phải cô Thuần thợ may không? Cô Hạnh giới thiệu bác đến nhờ may áo dài.” Tôi mời bà vào, rót nước. Bà nhìn quanh căn phòng nhỏ, ánh mắt xót xa: “Cháu ở một mình à? Cha mẹ đâu?” Tôi cúi đầu: “Cháu mồ côi từ nhỏ. Bà ngoại nuôi nhưng bà cũng mất mấy năm rồi.” Bà thở dài, nắm tay tôi: “Tội nghiệp con bé.” Lâu lắm rồi mới có người hỏi han tôi như vậy. Tôi thấy ấm áp lạ lùng.
Bà Phương quay lại rất thường xuyên. Lần đầu đặt may hai chiếc áo dài, đưa tiền cọc, ngồi nói chuyện cả tiếng. Hỏi tôi học may từ bao giờ, có bạn trai chưa, dự định tương lai. Tôi ngại ngùng trả lời. Bà gật gù: “Con bé ngoan thế, hiền lành thế, chắc chắn sau này sẽ có phúc.” Mấy ngày sau bà mang túi hoa quả: cam, táo, bưởi. Tôi từ chối. Bà cười: “Bác coi cháu như con cháu trong nhà.” Rồi bà kể về mình. Chồng mất mười mấy năm, có một con trai duy nhất tên Bình, 32 tuổi, hiền lành chất phác, hơi ít nói nhút nhát, chưa có vợ vì khó tính, thích người quê mùa chân chất. Ánh mắt bà nhìn tôi có gì đó lạ. Lúc đó tôi không nghĩ nhiều.
Bà đến ngày càng thường xuyên, mỗi tuần hai ba lần, mang quà bánh, gạo, thịt. Tôi từ chối hoài nhưng bà nằng nặc. Tôi tin bà thương tôi thật lòng. Ba năm cô đơn, bỗng có người hỏi han, mang quà, nói chuyện hàng giờ. Tôi bắt đầu mong chờ những lần bà đến. Tôi đâu biết tất cả là mồi câu.
Hơn hai tháng sau, bà dẫn anh Bình đến. Người đàn ông cao ráo, trắng trẻo, khuôn mặt hiền lành, áo sơ mi trắng quần tây đen. Anh đứng cúi đầu, tay xoắn vào nhau ngượng ngùng. Bà đẩy anh về phía tôi: “Bình chào cô Thuần đi con.” Anh ngẩng lên, cười. Nụ cười hiền đến mức lòng tôi dịu lại. Giọng hơi ngọng, hơi chậm: “Cháu chào cô Thuần.” Tôi cũng ngượng: “Dạ em chào anh.” Chúng tôi ngồi đối diện, không ai nói câu nào. Anh cứ cúi đầu mân mê ly nước. Đôi mắt anh hơi đờ đẫn, xa xăm. Tôi nghĩ anh nhút nhát. Bà kể anh làm xưởng mộc, chăm chỉ, chưa bao giờ cãi mẹ, chỉ hơi ít nói vì từ nhỏ không thích nói nhiều. Tôi tin. Tôi nghĩ người đàn ông như vậy chắc biết thương vợ.
Bà sắp xếp chúng tôi gặp nhau thường xuyên. Mỗi tuần ít nhất hai lần. Có khi chiều bà dẫn anh đến, bảo hai đứa đi dạo. Anh ít nói, chỉ cười hiền. Có lần anh đưa cho tôi quả cam, nói chậm rãi: “Cam ngon, cô ăn.” Tôi thấy ấm lòng. Dần dần tôi có thiện cảm. Bà Phương thì liên tục khen tôi ngoan, bảo anh Bình rất thích tôi, hỏi tôi có đồng ý làm dâu nhà bà không. Tôi ngại: “Cháu còn phải suy nghĩ.” Bà nắm tay tôi: “Bác già rồi, chỉ mong thằng Bình có vợ để bác yên lòng. Cháu về với bác, bác sẽ cho cháu căn nhà ba tầng, sổ tiết kiệm tiền tỷ. Cháu không phải lo gì nữa.”
Căn nhà ba tầng và sổ tiết kiệm tiền tỷ. Với tôi lúc đó như giấc mơ. Tôi mồ côi nghèo khó, cả đời chưa dám nghĩ đến chuyện có nhà riêng. Bà Phương nói như vậy, tôi lung lay. Tôi nghĩ bà thương tôi, muốn bù đắp. Tôi đồng ý.
Đám cưới được tổ chức lớn. Cả làng trầm trồ. Món hồi môn tiền tỷ khiến ai cũng ghen tỵ. Người ta bảo tôi số hưởng nhất vùng. Căn nhà ba tầng khang trang, sổ tiết kiệm đầy ắp. Tôi mặc váy cưới đỏ, đội mấn, bước vào căn nhà ấy với hy vọng về một cuộc đời mới.
Nhưng đêm tân hôn, anh Bình không vào phòng. Tôi ngồi chờ đến tận sáng. Sáng hôm sau bà Phương mới nói sự thật. Anh Bình bị tai nạn giao thông cách đây mười năm, chấn thương sọ não, trí tuệ như trẻ con năm sáu tuổi. Anh không thể tự chăm sóc bản thân hoàn toàn, không hiểu chuyện vợ chồng, không thể có con. Bà giấu tôi vì sợ không ai lấy anh, sợ anh cô đơn khi bà mất. Bà dùng nhà và tiền để “mua” tôi về chăm sóc con.
Tôi sụp đổ. Tôi gào khóc, đập phá. Tôi muốn bỏ đi ngay. Nhưng bà Phương quỳ xuống chân tôi, nước mắt chảy: “Con ơi, mẹ sai rồi. Mẹ lừa con. Nhưng mẹ làm vì Bình. Nó không có lỗi. Nếu con bỏ đi, mẹ chết, nó sẽ không còn ai. Mẹ xin con ở lại. Tất cả nhà cửa, tiền bạc mẹ cho con hết. Con muốn làm gì thì làm, chỉ xin đừng bỏ nó.”
Tôi nhìn anh Bình đứng ở cửa, mắt đờ đẫn, tay cầm quả cam, nói ngọng: “Vợ ơi, ăn cam ngon.” Tôi gục xuống. Tôi không thể bỏ đi. Tôi nghĩ đến bà ngoại dạy sống phải có tình có nghĩa. Tôi nghĩ nếu bỏ đi, tôi sẽ sống trong day dứt suốt đời. Tôi quyết định ở lại.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
Những ngày đầu tôi sống trong cơn giận dữ. Tôi không nói chuyện với bà Phương. Tôi chăm sóc anh Bình như chăm một đứa trẻ vì thương hại, không phải vì tình vợ chồng. Tôi nấu cơm, tắm rửa, đút ăn những lúc anh không tự làm được. Khi anh hoảng loạn, tôi ôm anh vào lòng vỗ về: “Không sao, có vợ đây, đừng sợ.” Anh dần bình tĩnh, nhìn tôi cười: “Vợ vợ Bình.”
Có những đêm tôi không ngủ được, ngồi ngoài hiên nhìn trăng. Bà Phương cũng ra. Bà ngại ngùng định quay vào. Tôi nói: “Mẹ ngồi đây đi.” Bà ngồi xuống. Im lặng lâu. Rồi bà nói nhỏ: “Thuần à, mẹ xin lỗi con. Mẹ biết nói bao nhiêu lần cũng không đủ.” Tôi im lặng rồi nói: “Mẹ à, con vẫn còn giận, vẫn còn đau vì bị lừa. Nhưng con cũng hiểu mẹ làm vì con.” Bà khóc. Tôi cũng khóc. Hai người đàn bà ngồi khóc bên nhau trong đêm.
Tôi quyết định ở lại không phải vì nhà, không phải vì tiền. Tôi ở lại vì cái tình cái nghĩa bà ngoại dạy. Vì anh Bình không có lỗi. Vì tôi không thể trở thành kẻ vô tình. Tôi chấp nhận một cuộc sống không như mơ ước.
Một năm trôi qua. Mỗi ngày tôi thức sớm nấu cơm, giặt rũ, dọn dẹp, chăm sóc anh Bình. Chiều mát tôi dắt anh đi dạo dọc đường làng, qua rặng tre, ra cánh đồng. Anh thích đi dạo, chỉ trỏ mọi thứ, cười hồn nhiên. Có lúc nhặt bông hoa dại đưa cho tôi: “Hoa đẹp cho vợ.” Tôi cầm hoa cười. Những khoảnh khắc nhỏ ấy làm tôi thấy cuộc sống cũng có niềm vui giản dị.
Tôi vẫn may vá nhận đồ cho bà con. Công việc giúp tôi có thu nhập riêng, có niềm vui riêng. Hàng xóm biết hoàn cảnh, thương tôi, hay ghé thăm mang rau, quả trứng. Tôi không cô đơn.
Có những đêm tôi tự hỏi nếu ngày đó bỏ đi thì bây giờ ra sao. Có thể tôi đã có cuộc sống khác, gặp người đàn ông bình thường, có gia đình đúng nghĩa. Nhưng cuộc sống không có chữ nếu. Tôi đã chọn và phải sống với lựa chọn đó. Tôi không hối hận. Tôi chọn sống với chữ nghĩa hơn chữ tình. Chữ tình tôi không có, tôi không yêu anh Bình như vợ yêu chồng. Nhưng chữ nghĩa tôi có. Tôi ở lại, chăm sóc, không bỏ rơi. Tôi nghĩ như vậy là đủ. Tôi chỉ cần cuộc sống mà tôi có thể ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào mắt mọi người mà không hổ thẹn.
Bà Phương già yếu dần. Tôi lo cho bà như lo cho mẹ. Anh Bình vẫn như đứa trẻ. Có lúc tỉnh táo nhận ra tôi, nắm tay nói: “Bình thương vợ.” Giọng ngọng nghịu nhưng chân thành. Đó là thứ tình cảm tôi chưa từng được nhận. Tôi mồ côi từ nhỏ, lớn lên thiếu thốn tình cảm. Được anh thương theo cách đơn sơ như vậy, tôi cũng thấy ấm lòng.
Tôi không phủ nhận vẫn còn đau vì bị lừa. Quyền được biết sự thật trước khi quyết định đã bị cướp đi. Nhưng tôi học được cách chấp nhận, cách sống chung với nỗi đau. Tôi ở lại vì lòng trắc ẩn, vì không muốn để anh Bình một mình khi bà Phương không còn. Tôi ở lại vì muốn sống sao cho xứng với những gì đã nhận, dù sự cho đi ấy có toan tính.
Cuộc sống này không giống gì tôi từng mơ. Không có tình yêu nồng nhiệt. Chỉ có sự bình yên, ấm áp giản dị. Tôi dắt tay anh Bình đi dưới rặng tre chiều tà, nghe anh cười hồn nhiên, nhận bông hoa dại anh đưa. Tôi thấy mình đã tìm được chỗ đứng. Không hoàn hảo, nhưng đủ để tôi sống mà không hổ thẹn với lòng mình và với hương hồn bà ngoại.
Mỗi sáng tôi vẫn dậy sớm. Nồi cơm sôi. Anh Bình ngồi chờ được đút ăn. Bà Phương ngồi ghế mây uống trà. Ngoài sân nắng lên. Tôi ngồi vào máy may. Tiếng máy chạy đều. Đôi khi anh Bình lại gần, đưa cho tôi quả cam hoặc bông hoa, nói chậm: “Cho vợ.” Tôi nhận lấy, mỉm cười. Cuộc đời này trăm ngả. Tôi đã chọn ngả đường này. Và tôi sẽ đi hết nó với tấm lòng thanh thản nhất có thể.




