Chồng M/ất Tí/ch 8 Năm Bỗng Trở Về Gõ Cửa, Tôi Kh/óc Nức Nở… Cho Đến Khi Thá/m T/ử Đưa Tôi Chiếc Phong Bì

Chồng M/ất Tí/ch 8 Năm Bỗng Trở Về Gõ Cửa, Tôi Kh/óc Nức Nở… Cho Đến Khi Thá/m T/ử Đưa Tôi Chiếc Phong Bì


Tôi mở cửa, và người đàn ông trên bàn thờ nhà tôi đang đứng đó.

Sáng Chủ nhật 15 tháng 6 năm 2025, nồi phở trên bếp sôi lăn tăn, mùi quế hồi thơm khắp nhà. Ngoài phòng khách, chồng tôi là anh Minh đang xếp hình với thằng An, con bé Thu Trang lẫm chẫm vịn vai bố tập đi. Chuông cửa reo. Tôi lau tay vào tạp dề, cười bảo để em ra mở.

Đứng trước mặt tôi là một người đàn ông gầy rộc, gò má đen sạm, chiếc sơ mi sờn cổ, tay xách cái túi ni lông xẹp lép. Tim tôi như bị bóp nghẹt. Tơi tả đến mấy tôi vẫn nhận ra khuôn mặt ấy. Ba năm nay ngày nào tôi cũng thắp hương trước nó.

Môi anh ta run run, nước mắt chảy dài:

“Lan… anh về rồi.”

Trời đất tối sầm. Tôi ngã quỵ ngay trên bậc cửa.

Tôi lấy anh Tuấn năm hai mươi hai tuổi. Anh là kỹ sư xây dựng, nhận lương là chuyển hết cho vợ, cười bảo: “Vợ vui là anh hạnh phúc.” Ngày tôi sinh bé Minh An, anh bế con, tay run, mắt đỏ hoe: “Anh có vợ yêu, con khỏe, anh không cần gì hơn nữa.” Tôi đã tin câu ấy bằng cả thanh xuân.

Đầu năm 2017, anh nhận lên Lai Châu làm công trình thủy điện sáu tháng để gom tiền mua nhà. Đêm trước hôm anh đi, tôi vừa xếp vali vừa khóc. Tháng đầu, ngày nào anh cũng gọi. Tháng sau thưa dần: sóng yếu, đang họp, đang đổ bê tông. Tôi tự bao biện thay anh.

Rồi 5 giờ chiều ngày 15 tháng 5 năm 2017, điện thoại hiện chữ “Chồng yêu”. Giọng anh trầm và vội, lẫn tiếng còi xe:

“Lan ơi, anh phải đi xa vài ngày, có thể không liên lạc được, em đừng lo.”

Tút tút tút. Tôi gọi lại bốn lần. Thuê bao không liên lạc được.

Đó là câu cuối cùng tôi nghe từ anh, suốt tám năm.

Công ty bảo anh chưa từng lên Lai Châu. Camera bến xe cho thấy anh xách đúng chiếc vali tôi xếp, mặc đúng chiếc áo tôi ủi, trả tiền mặt mua vé đi Lào Cai. Tôi chưa từng nghĩ đến phản bội. Tôi chỉ sợ anh bị lừa, bị hại.

Năm năm sau đó tôi chỉ tồn tại để tìm chồng. Cuối tuần nào cũng bắt xe lên Lào Cai dán tờ rơi. Mười lăm triệu một lần thuê thám tử, tôi thuê không đếm nổi. Tiền cạn, tôi ôm con vào phòng trọ ẩm thấp, mưa ngập phải đặt con nằm nôi trên mặt bàn. Thằng bé đứng níu cổng trường hỏi: “Bao giờ bố Tuấn về hả mẹ?”

Năm 2022, nợ đã hàng trăm triệu, tôi run tay ký đơn xin tòa tuyên bố anh đã chết. Tôi lập bàn thờ nhỏ trong góc phòng trọ, ôm con: “An ơi, bố mất rồi, con lạy bố đi.” Đôi bàn tay bé xíu chắp lại. Tim tôi vỡ vụn.

Năm 2023, An sốt xuất huyết nhập viện. Bác sĩ điều trị là anh Minh. Những đêm tôi gục bên giường con, anh lặng lẽ đắp chăn cho tôi. Lần đầu thấy bàn thờ trong phòng trọ, anh không hỏi gì, chỉ đặt lên đó bó cúc trắng. Cuối năm ấy chúng tôi cưới. Thằng An tự gọi anh là bố. Rồi Thu Trang ra đời. Tôi tưởng quá khứ đã ngủ yên.

Tôi đã lầm.

Tỉnh dậy trên sofa, tôi thấy anh Minh đang day thái dương cho mình. Đối diện, người đàn ông kia ôm cốc nước, tay run sánh cả ra ngoài. Anh ta lao tới định quỳ ôm tôi. Anh Minh đứng chắn giữa: “Anh cứ ngồi yên, có gì từ từ nói.” Thằng An nấp sau lưng bố Minh, mắt tròn xoe.

Anh Tuấn vừa nấc vừa kể. Hôm ấy ở bến xe, anh bị người lạ mời lon nước, tỉnh dậy đã ở rừng sâu Cao Bằng, bị gán vào bãi quặng lậu. Tám năm chui hầm tối, chậm tay là ăn đòn. Có lúc muốn buông xuôi, nhưng nghĩ đến vợ con lại cắn răng sống. Anh vén ống quần cho tôi xem những vết sẹo thâm đen. Mấy hôm trước núi sạt, anh mới trốn được, xin ăn dọc đường về Hà Nội.

Tôi khóc đến nghẹt thở. Nhìn căn nhà khang trang, nhìn chiếc váy mình đang mặc, tôi thấy mình là kẻ phản bội. Anh chịu đọa đày dưới hầm tối, còn tôi thắp hương báo tử rồi đi lấy chồng.

Anh Minh không nói nặng một lời. Anh pha cốc nước mật ong ấm, rồi tự tay đưa anh Tuấn ra khách sạn đầu ngõ.

Đêm đó anh ôm tôi rất lâu, rồi khẽ nói:

“Lan, là người làm nghề y, anh muốn em nhìn lại. Tám năm cầm xẻng đào quặng, bàn tay không thể móng cắt tỉa gọn gàng như vậy. Thiếu chất ngần ấy năm, răng phải mòn xỉn, đằng này răng anh ta đều và sạch. Còn mấy vết sẹo kia là sẹo ngã xe, không phải sẹo roi. Em thuê thám tử đi. Nếu anh ta thật sự là nạn nhân, anh sẽ cùng em giúp anh ta. Còn nếu không…”

Anh bỏ lửng. Tôi nổi da gà.

Một tháng chờ đợi dài như cả đời. Tôi vẫn mang cơm sang khách sạn. Anh ta rơm rớm nhắc chuyện ngày đi chọn nhẫn cưới, rụt rè chạm tay tôi: “Anh không dám đòi gì, chỉ xin thỉnh thoảng được nhìn mẹ con em.”

Anh ta nài gặp con. Ở quán cà phê, anh ta vồ lấy thằng bé: “An ơi, bố Tuấn đây!” Thằng An lùi lại, bám chặt vạt áo tôi:

“Mẹ ơi, sao chú này giống cái bác trên ảnh bàn thờ nhà mình thế? Bố Minh của con đâu?”

Một chiều cuối tháng 7, trời vần vũ mây đen, anh thám tử gọi: “Chị qua gặp em ngay.”

Trên bàn là một chiếc phong bì nâu dán kín. Anh ấy đẩy nó về phía tôi, ánh mắt ái ngại:

“Chị Lan, chị chuẩn bị tinh thần đi. Chuyện bắt cóc là bịa hết. Sự thật trong này còn tàn nhẫn hơn chị tưởng rất nhiều.”

Ngón tay tôi chạm vào lớp giấy thô ráp. Tôi biết, khi bóc nó ra, đời tôi sẽ vỡ thêm một lần nữa.

……………………………………………

Mời quý đọc giả đọc PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇

Tấm ảnh đầu tiên trượt ra: một gia đình ba người bên chiếc bánh kem. Anh Tuấn mặc áo thun hàng hiệu, tóc vuốt bóng, bế một bé trai bụ bẫm. Nép vào vai anh là một người phụ nữ trẻ môi đỏ chót, cười rạng rỡ. Mặt sau ghi: “Mừng con trai tròn một tuổi, 2019.”

Tờ tiếp theo là bản sao giấy khai sinh. Sinh năm 2018. Cha: Trần Văn Tuấn. Mẹ: Phạm Thu Hương.

Chữ nhòe đi trước mắt tôi.

Không có lon nước nào ở bến xe. Cuộc gọi 5 giờ chiều, tiếng còi xe vội vã, câu “em đừng lo”, tất cả là màn kịch anh ta dựng sẵn. Anh ta ôm khoản tiền riêng giấu tôi từ lâu, lên Lào Cai theo người đàn bà kia. Ba năm tôi quỳ khắp đền phủ cầu bình an cho chồng, dán tờ rơi in mặt anh ta ở chính cái tỉnh ấy, thì anh ta đang thổi nến mừng sinh nhật đứa con khác.

Còn hầm mỏ thì có thật. Năm 2020, Thu Hương sa vào đỏ đen, nợ chồng chất. Cô ta dụ anh ta ký giấy, vét sạch tiền, rồi gán anh ta cho đường dây quặng lậu để trừ nợ, ôm con biến mất. Năm năm khổ sai ấy không phải tai họa từ trời rơi xuống. Đó là nhát cắn ngược của chính người anh ta bỏ vợ con để chạy theo. Trốn về, không một xu dính túi, anh ta mới nhớ ra Hà Nội còn một người đàn bà cả tin.

Tôi siết chặt xấp giấy đến nhàu nát. Một tháng xót thương, bao nhiêu nước mắt day dứt, bỗng hóa thành lửa.

Tối hôm đó, sấm chớp rạch ngang trời. Tôi hẹn anh ta ở quán cà phê vắng trong ngõ. Anh ta bước vào, vẫn dáng co ro, mắt cụp xuống: “Lan gọi anh có việc gì gấp thế? Anh đang định viết thư xin lỗi em…”

Tôi đặt chiếc phong bì xuống mặt kính, đánh “cạch” một tiếng.

“Anh mở ra đi. Xem có nhận ra người quen không.”

Tấm ảnh sinh nhật trượt ra dưới ánh đèn vàng vọt. Mặt anh ta cắt không còn giọt máu. Môi tái chuyển tím. Anh ta bất ngờ trượt khỏi ghế, quỳ sụp dưới chân tôi, nước mắt nước mũi tèm lem:

“Lan ơi anh sai rồi! Con Hương nó bỏ bùa anh, anh u mê nhất thời! Anh trả giá năm năm sống không bằng chết rồi. Nể tình thằng An, cứu anh với!”

Bên tai tôi văng vẳng tiếng thằng An khóc khát sữa trong căn phòng trọ dột nát.

Tôi đứng bật dậy, hắt thẳng ly nước lọc vào khuôn mặt đầy nước mắt giả tạo kia.

“Lúc anh ôm ấp người đàn bà đó, anh có nghĩ đến mẹ con tôi không? Lúc anh mua bánh kem cho con riêng, con trai anh đang mặc áo rách ăn cháo loãng, anh có biết không? Đừng mang thằng An ra làm bình phong cho sự tệ bạc của anh!”

Sấm nổ vang trời. Mưa trút xuống xối xả.

Tôi giơ tay tát anh ta một cái nảy lửa. Cái tát cho tám năm thanh xuân, cho từng nén nhang tôi thắp vô ích. Bàn tay tê dại, mà lòng nhẹ bẫng. Tôi cầm túi bước thẳng vào màn mưa, không ngoảnh lại.

Nhưng bước đi thì dễ. Trên giấy tờ, anh ta vẫn là người đã chết. Chỉ cần anh ta nộp đơn xin hủy quyết định của tòa, cuộc hôn nhân của tôi với anh Minh sẽ rơi vào một mớ rối pháp lý không lối ra. Trên đời này, tôi là người đàn bà có hai người chồng hợp pháp.

Vài hôm sau, tôi gọi cho anh ta, giọng lạnh như đá:

“Nếu còn sót lại chút lương tâm của người làm cha, anh hãy cứ là người đã chết. Đừng bao giờ xin hủy quyết định. Đó là thứ duy nhất anh còn trả được cho mẹ con tôi.”

Đầu dây im lặng rất lâu, chỉ có tiếng thở dài. Rồi anh ta cúp máy. Một dòng tin nhắn hiện lên: “Anh đồng ý.”

Tháng 10, trước khi về hẳn quê Hải Dương, anh ta xin gặp con lần cuối. Anh ta ôm theo con robot đắt tiền. Thằng An đã gần mười tuổi, đứng nép bên tôi, nhìn anh ta rất lâu rồi hỏi:

“Chú là ai? Sao chú giống bố con trong ảnh?”

Hộp đồ chơi trên tay anh ta run bần bật. Anh ta nhìn tôi như cầu xin. Tôi khẽ lắc đầu.

Anh ta cắn môi đến bật máu, rồi nói từng chữ:

“Chú… là bạn của mẹ con. Chú tên Tuấn. Từ nay chú làm chú của con nhé.”

Thằng bé khoanh tay, cười ngoan: “Cháu chào chú Tuấn ạ. Cháu cảm ơn chú.”

Anh ta quay vội mặt đi, lấy tay che miệng, vai rung lên từng hồi.

Bây giờ, mỗi tháng anh ta lên Hà Nội một lần, ngồi ở quán nước đầu ngõ nhìn thằng An đá bóng với bố Minh. Thằng bé chạy ngang qua, vẫy tay lễ phép: “Chú Tuấn ạ!” rồi chạy tiếp, chẳng ngoái lại.

Bàn thờ ngày xưa tôi đã cất đi từ lâu. Chỉ có tấm ảnh cưới phóng to ấy tôi chưa nỡ đốt. Nó nằm dưới đáy tủ, gói trong tờ báo cũ. Thỉnh thoảng chạm phải, tôi lại nhớ cái chiều tháng 5 năm ấy, tiếng còi xe, câu “em đừng lo”.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!