Nữ công an cấp cao vào trại giam làm nhiệm vụ, chết lặng 7 giây khi nhận ra người đàn ông sau song sắt chính là chồng cũ….
Qua khe cửa sắt rỉ sét của buồng biệt giam số 0814, tôi nhìn thấy khuôn mặt của người chồng mà tôi đã thắp hương suốt tám năm.
Tập hồ sơ trên tay tôi rơi xuống nền xi măng ẩm ướt. Ánh đèn neon chớp tắt hắt vào gương mặt gầy rộc, vết sẹo dài từ đuôi mắt trái kéo xuống gò má, nhưng đôi mắt ấy, cái nhíu mày nhẫn nhịn ấy, tôi có chết cũng không nhận nhầm. Lê Hoàng Nam. Người mà ai cũng bảo tôi là kẻ phản bội, đã ôm tiền bỏ trốn rồi chết mất xác ngoài biển.
– Mở cửa! Mở ngay cánh cửa này cho tôi!
Tôi là Nguyễn Minh Thư, ba mươi lăm tuổi, thượng tá, phó đội trọng án. Người trong cơ quan gọi tôi là “bông hồng thép không tim”. Họ không biết trái tim ấy đã vỡ từ cái đêm tám năm trước, khi tôi quỳ trước một di ảnh không có thi thể, còn Trần Quốc Hùng, đồng đội thân nhất của chồng tôi, đặt tay lên vai tôi, giọng ngậm ngùi: “Nam phản bội anh em rồi, em ạ.”
Tám năm, Hùng lui tới nhà tôi nhiều nhất, vậy mà mỗi lần hắn cười, sống lưng tôi lại lạnh. Đêm qua, khi biết tôi được giao rà soát hồ sơ trại giam số 4, nụ cười ấy đông cứng. Hắn chống tay xuống bàn tôi, hạ giọng: “Đừng đến đó. Chỗ đó nước đục lắm, không cẩn thận em chết chìm đấy.”
Giờ thì tôi hiểu vì sao.
Mười lăm phút sau, trong phòng thẩm vấn, tôi ra lệnh tắt hết camera. Anh ngồi đối diện, hai tay bị còng vào bàn.
– Anh Nam… là anh, đúng không?
Anh ngẩng lên, nhếch mép, giọng khàn đặc như giấy nhám:
– Cán bộ nhận nhầm rồi. Tôi là Lê Văn Hải, giang hồ gọi Hải Sẹo.
– Bé An vẫn giữ cái đồng hồ vỡ của anh. Đêm nào nó cũng ôm mà khóc gọi bố…
Đồng tử anh co rút. Rồi “choang”, anh hất văng cốc nước vào tường, gào lên những lời nhục mạ cay độc nhất tôi từng nghe, rằng tôi cô đơn đến mức nhìn thằng tù nào cũng ra chồng. Tôi đứng chết lặng, nước mắt chảy dài.
Nhưng tôi kịp thấy hai điều. Nam thuận tay phải, vậy mà anh hất cốc bằng tay trái, còn tay phải buông thõng như đã tàn phế. Và đôi mắt anh: miệng chửi tôi, mắt lại van xin. Đi đi em. Xin em, đi đi.
Hồ sơ của Lê Văn Hải hoàn hảo đến đáng sợ, chỉ có tờ tàng thư căn cước khiến tôi lạnh người: cả mười ô vân tay đều bị ai đó cố tình tô đậm mực lên lõi, xóa sạch đường vân. Về cơ quan, tôi tra lại chuyên án tám năm trước. Màn hình đỏ rực: Hồ sơ đã bị niêm phong. Người khóa: Đại úy Trần Quốc Hùng. Thời điểm: ba ngày sau khi Nam mất tích.
Tối đó, Hùng đến nhà tôi với giỏ trái cây và hộp búp bê. Ánh mắt hắn lướt qua bàn trà, dừng lại đúng dòng chữ đỏ tôi chưa kịp che: Phạm nhân 0814. Nụ cười hắn méo đi.
– Thư, em lật lại chuyện này thì người nằm xuống đầu tiên sẽ không phải là em đâu.
Hai giờ mười lăm sáng, điện thoại reo. Nam bị ba bạn tù đâm gục trong phòng tắm.
Tôi phóng xe giữa mưa như kẻ mất trí. Trong phòng hồi sức, anh nằm bất động, băng gạc thấm đỏ. Tôi quỳ bên giường, chạm vào gương mặt đầy sẹo ấy, và nghe anh mê sảng:
– Đừng động vào vợ con tao… An ơi… chạy đi con… ba xin lỗi…
Không gã giang hồ nào gọi tên con gái tôi bằng giọng xé ruột như thế. Tôi nuốt nước mắt, vớ lấy xi lanh trên khay, rút một ống máu của anh, giấu vào túi áo ngực, sát tim mình. Nước mắt không làm bằng chứng được. Máu thì có.
Trên đường đèo về thành phố, một chiếc SUV đen không biển số lao lên, nòng súng thò ra cửa kính. Xe tôi bị húc văng qua dải phân cách, chênh vênh trên miệng vực. Tôi đạp cửa nhảy ra đúng lúc nó rơi, bám rễ cây đến rách cả mười đầu ngón tay. Tôi đưa tay sờ ngực áo. Ống máu vẫn còn nguyên.
Sáng hôm ấy, ở phòng giám định của người bạn cũ, tôi cầm tờ kết quả so với lọn tóc của bé An: quan hệ cha con, 99,99%.
Tôi chưa kịp khóc thì đã về đến nhà và thấy cửa bị phá. Mẹ tôi nằm gục giữa phòng khách, máu loang trên trán. Bé An biến mất. Trên giường con bé, một con dao cắm xuyên tấm ảnh cưới của tôi và Nam, kèm dòng chữ đỏ: “Muốn con còn lành lặn thì dừng lại.”
Rồi chính Hùng gọi tới, giọng ngọt như mật: “Con bé chạy đến cơ quan tìm mẹ, anh đang cho nó ăn phở ở căng tin đây. Lần này anh tình cờ gặp. Lần sau thì chưa chắc.”
Không còn nơi nào an toàn, tôi đưa An theo vào trại giam. Qua tấm kính phòng thăm gặp, con bé áp chiếc đồng hồ vỡ lên mặt kính:
– Chú ơi, mắt chú giống hệt bố cháu trên bàn thờ…
Tám năm gồng mình của anh sụp đổ trong một câu nói. Nam quay lại, nước mắt chảy qua vết sẹo, gục mặt vào kính: “Bố… bố xin lỗi…” Lúc cửa mở, An lao vào lòng anh, và trong vòng ôm ấy, bàn tay phải “tàn phế” của anh lặng lẽ nhét một mẩu giấy dính máu vào túi áo con.
Ga trung tâm, tủ 404, mã số ngày sinh của em. Đừng tin ai, kể cả Hùng.
Trong chiếc hộp sắt là cuốn sổ ghi những dòng tiền bẩn và một chiếc USB. Trong căn phòng nhà nghỉ tồi tàn, tôi mở file ghi âm. Tiếng sóng, tiếng Nam hét vào bộ đàm xin chi viện. Rồi tiếng lên đạn sát bên anh, và giọng Hùng lạnh như băng:
– Mày đi đi, tao sẽ chăm sóc vợ con mày chu đáo.
Hai tiếng nổ. Tiếng một thân người đổ xuống.
Tôi chưa kịp rút USB thì cánh cửa bị đạp tung. Bốn họng súng chĩa thẳng vào đầu hai mẹ con tôi. Hùng bước vào sau cùng, tay đút túi quần, mỉm cười:
– Chơi trốn tìm với anh, em còn non lắm.
……………………………………………
Tôi ném khẩu súng xuống sàn. Rồi tôi quỳ.
Tôi, người chưa từng lùi bước trước bất kỳ tên tội phạm nào, quỳ trên nền gạch rẻ tiền, ôm con, khóc lạy hắn: “Em thua rồi. Anh lấy hết đi. Chỉ xin anh tha cho bé An.”
Hùng cười sằng sặc, lấy mũi giày nâng cằm tôi lên, giật USB, nhét cuốn sổ vào túi rồi ra lệnh: mai nộp đơn nghỉ, chiều bay vào Nam, đừng bao giờ quay lại.
Cánh cửa đóng sập. Tôi lau nước mắt, đứng dậy.
Ngay từ giây phút cắm USB vào máy, tôi đã cài lệnh đồng bộ toàn bộ dữ liệu lên máy chủ mã hóa của Bộ. Màn quỳ lạy ấy chỉ để câu giờ cho thanh tải chạy đến 100%. Hắn cầm đi một chiếc USB. Tôi giữ lại cả sự thật.
Đêm đó tôi gọi cho thiếu tướng Phạm Văn Tường, người thầy đã dìu dắt cả tôi và Nam vào nghề. Đầu dây im lặng rất lâu, rồi tôi nghe giọng ông nghẹn lại.
Sáng hôm sau, tay chân của Hùng chụp được cảnh tôi dắt An lên chuyến bay vào Nam. Chúng không thấy rằng cửa máy bay vừa đóng, tôi đã “đau ruột thừa” và được đưa xuống xe cứu thương. Mười phút sau, tôi khoác áo giáp, đứng giữa bốn mươi chiến sĩ đặc nhiệm từ Bộ, không một người nào thuộc biên chế tỉnh.
Đúng như tôi đoán, tưởng tôi đã đi xa, Hùng lập tức ra lệnh “dọn dẹp” 0814.
Xe bọc thép húc đổ cổng trại giam. Tôi gí súng vào trán giám thị, hỏi đúng một câu. Khu nhà tắm chung.
Khối bộc phá thổi tung cánh cửa sắt đúng lúc sợi dây dù đã siết quanh cổ Nam, ba gã xăm trổ đang định dựng cảnh anh tự tìm đến cái chết. Tôi bắn ba phát vào đầu gối chúng rồi lao đến ôm anh. Máu từ vết thương cũ thấm đỏ áo tôi. Rất lâu sau, anh mở mắt, thều thào:
– Em béo lên đấy… mà vẫn mít ướt như xưa.
Trên băng ca, anh kể. Đêm ở cảng, trúng hai viên đạn, anh rơi xuống biển, được một ông lão đánh cá vớt lên. Biết Hùng đã nắm hết quyền lực, anh tự rạch mặt, đốt đầu ngón tay, gây án để chui vào trại số 4, sào huyệt của đường dây, tìm danh sách những kẻ nhận tiền. Tám năm anh làm một con chó hoang tên Hải Sẹo, để mẹ con tôi được sống.
Từ điện thoại của gã xăm trổ, tôi nhắn cho “Đại ca Hùng”: Xong. 0814 đã tắt thở.
Hai ngày sau, ở đám tang giả của Lê Văn Hải, tôi thả mồi cuối cùng: cuốn sổ hắn đốt chỉ là bản chép tay. Bản gốc, có chữ ký và dấu vân tay của kẻ nội gián, pháp y tìm thấy trong dạ dày người chết. Tôi đang cất nó trong két sắt phòng làm việc.
Hai giờ sáng, Hùng mở được két. Đèn bật sáng. Cuốn “sổ gốc” rơi xuống, toàn giấy trắng. Thiếu tướng Tường và đội đặc nhiệm chắn kín cửa.
Hắn không quỳ. Hắn cười như điên, đá văng súng của tôi, siết cổ tôi, dí khẩu rulô vào thái dương. Tôi chỉ nói một câu: “Tám năm trước anh không dám đối mặt với Nam, giờ lại núp sau lưng một người đàn bà.”
Và hắn tự khai hết, ngay trước camera trên ngực áo đặc nhiệm. Hai triệu đô. Nam không chịu nhắm mắt làm ngơ. Hai viên đạn. Đạp xuống biển.
– Sáng nay chồng mày đi thật rồi! – hắn rít vào tai tôi.
Từ cuối hành lang vang lên tiếng bước chân, chậm và vững.
Nam bước ra trong bộ cảnh phục phẳng phiu. Cánh tay phải mà Hùng tin đã phế suốt tám năm giơ thẳng, nòng súng nhắm giữa trán hắn.
– Mày thua rồi, người anh em.
Hùng run lẩy bẩy, khẩu súng trượt khỏi thái dương tôi. Một cú cùi chỏ, một cú quét chân, và tiếng còng số tám khóa lại tất cả.
Một tháng sau, Hùng ngồi chờ ngày thi hành án trong chính buồng biệt giam 0814. Nam được phục hồi danh dự, được gắn huân chương giữa tràng pháo tay không dứt. Mẹ tôi tỉnh lại sau ca mổ, nắm tay con rể mà khóc, xin lỗi vì tám năm đã trách lầm.
Chiều cuối tuần, chúng tôi đi dạo ven hồ. Bé An chạy phía trước với quả bóng đỏ, ngoảnh lại gọi bố mẹ. Tôi tựa vào vai Nam, nghe tiếng anh thở, lần đầu tiên sau tám năm không phải qua một tấm kính.
Nhưng có những thứ không bao giờ trở lại. Giọng anh đã khàn vĩnh viễn từ những năm tự hủy hoại mình, chẳng còn hát ru con được nữa. Đầu ngón tay anh trơn nhẵn, không còn vân. Và chiếc đồng hồ vỡ con bé vẫn giữ, kim dừng ở mười một giờ bốn mươi, cái đêm anh rơi xuống biển.
Nam bảo không cần sửa. Tôi cũng không nỡ.
Có những tối anh giật mình tỉnh giấc, mồ hôi ướt lưng, tay quờ quạng tìm lưỡi lam dưới gối. Tôi chỉ nắm lấy tay anh, chẳng nói gì. Tám năm anh ngủ giữa quỷ dữ. Tám năm tôi thắp hương cho một người còn sống.
Đêm nào tôi cũng tự hỏi, nếu hôm ấy cơn gió trên trần nhà không thổi rơi tập giấy, nếu tôi không cúi xuống nhặt…
Có lẽ giờ này, tôi vẫn còn đang thắp hương cho anh.





