Cưu Mang Cậu Bé Bán Vé Số 20 Năm, Đại Tá Công An Khóc Nghẹn Khi Nhận Kết Quả ADN “Hóa Ra Là…..
Tôi cầm phong bì kết quả ADN trên tay mà không dám mở. Nam ngồi đối diện, hai bố con nhìn nhau rất lâu. Trong đầu tôi chỉ thấy hình ảnh Lan hơn hai mươi năm trước đứng bên chiếc nôi trống, nắm tay tôi hỏi: “Không ai nhìn thấy con chết. Tại sao anh lại chắc con đã chết?”
Tôi mở phong bì. Dòng kết luận ghi quan hệ cha con trên 99%. Nam hỏi rất nhỏ: “Con là con của bố thật à?” Tôi gật đầu. Nó hỏi tiếp: “Vậy con cũng là con của mẹ Lan đúng không?” Tôi nói ừ. Đến câu đó tôi không chịu nổi nữa. Vợ tôi đã đúng. Đứa con bà chờ đợi không những còn sống mà đã trở về nhà, đã gọi bà là mẹ, đã ăn cơm bà nấu, đã lớn lên ngay trước mắt bà. Chỉ có điều người mẹ ấy đã ra đi trước khi có ai kịp nói với bà rằng Lan ơi, em tìm thấy con rồi.
Tôi tên Lê Quang Hải, năm nay 55 tuổi, đại tá công an. Vợ tôi Phạm Thị Lan mất cách đây hai năm vì ung thư. Chúng tôi từng có một đứa con trai. Hơn hai mươi năm trước, đúng đêm vợ tôi sinh, bệnh viện thông báo đứa trẻ đã chết vì suy hô hấp. Khi ấy tôi đang làm nhiệm vụ cách nhà hơn hai trăm cây số.
Đêm ấy mưa rất lớn. Khoảng hơn chín giờ tối mẹ vợ gọi báo Lan đau bụng từ chiều, đến tối vỡ ối, đã đưa vào bệnh viện huyện. Tôi xin về nhưng đoạn đường bị sạt. Gần hai giờ sáng có người gọi vào số đơn vị báo vợ tôi đã sinh một bé trai nhưng sinh thiếu tháng, suy hô hấp nặng, cấp cứu không giữ được. Tôi hỏi con tôi hiện ở đâu, sáng mai tôi về có được nhìn mặt cháu không. Họ trả lời việc đó người nhà sẽ được hướng dẫn rồi cuộc gọi kết thúc.
Tôi mất gần một ngày mới về đến nơi. Lan đang ngồi dựa đầu giường, mặt trắng bệch. Cô ấy nắm lấy tay tôi hỏi: “Anh đã nhìn thấy con chưa?” Tôi bảo chưa. Lan lập tức nói: “Con mình chưa chết đâu anh.” Cô ấy kể rất rõ sau khi sinh bác sĩ đặt đứa bé gần người cô ấy một lúc. Lan nghe con khóc, tiếng khóc yếu nhưng có. Đứa bé được quấn khăn màu vàng nhạt. Khi tỉnh lại cô ấy vẫn nghe tiếng một đứa trẻ khóc từ phía cuối hành lang và nhìn thấy một nữ hộ sinh bế đứa trẻ quấn khăn vàng đi ngang.
Tôi tìm xuống khu trực, đề nghị được nhìn con lần cuối. Người ta đưa cho tôi một tờ xác nhận trẻ sơ sinh nam tử vong do suy hô hấp. Tờ giấy rất sơ sài. Tôi hỏi thi thể ở đâu thì họ giải thích đêm mưa lớn, bệnh viện mất điện, khu lưu giữ có nước tràn vào nên một số trường hợp đã được chuyển đi. Một người mặc áo blouse đến nói trường hợp đã được xử lý theo quy định vì gia đình không có mặt kịp thời. Tôi tin. Tôi là công an nhưng khi chuyện rơi đúng vào gia đình mình, tôi lại không tỉnh táo như lúc làm việc.
Chiều hôm ấy tôi đưa Lan về nhà. Ở nhà đã có sẵn chiếc nôi bố tôi tự đóng. Lan đứng trước cái nôi rất lâu rồi quay sang bảo tôi: “Anh tin em một lần được không? Mình quay lại tìm con đi.” Tôi nói anh đã hỏi rồi, bệnh viện xác nhận con mất rồi. Lan hỏi: “Thế anh nhìn thấy con chưa? Mẹ có nhìn thấy không?” Tôi không trả lời được. Câu đó theo tôi hơn hai mươi năm.
Những tháng sau đó Lan thay đổi rất nhiều. Hễ nghe nhà nào trong xóm có trẻ sơ sinh khóc là cô ấy lại dừng việc đang làm. Cô ấy giữ lại toàn bộ giấy khám thai, phiếu nhập viện, chiếc khăn vàng cùng mấy bộ quần áo chưa từng được mặc. Mỗi năm đến đúng ngày sinh con, Lan lại mang những thứ ấy ra giặt hoặc phơi nắng. Có lần tôi bảo cất đi cho đỡ đau lòng. Lan nhìn tôi rồi nói: “Em cất đi thì khác gì em cũng thừa nhận con chết.”
Gần bốn năm sau, một buổi chiều đơn vị tôi có việc tại bệnh viện tỉnh. Tôi đi bộ ra cổng thì thấy một thằng bé đứng nép cạnh hàng nước, trên tay cầm một sấp vé số. Tôi đi ngang qua rồi. Được vài bước, phía sau có tiếng gọi: “Chú ơi, chú mua giúp con một tờ được không?” Tôi quay lại. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Nam. Tôi không nhận ra con. Tôi chỉ thấy một cậu bé gầy, tóc cháy nắng, đôi mắt nhìn người lớn rất dè chừng.
Tôi mua hai tờ rồi hỏi bố mẹ cháu đâu. Nó đáp: “Con không có bố mẹ, con ở với bà Tám.” Tôi theo nó về phòng trọ nhỏ. Bà Tám khoảng ngoài sáu mươi, sống bằng nghề nhặt ve chai và bán vé số. Bà nói Nam không phải cháu ruột. Khoảng hơn ba năm trước một chị trong nhóm thiện nguyện nhờ bà giữ giúp thằng bé ít hôm. Nhưng rồi người phụ nữ bỏ đi nơi khác, bà thương thằng bé nên cứ nuôi đến giờ. Giấy tờ chỉ có vài tờ xác nhận tạm thời, không có giấy khai sinh gốc.
Từ hôm đó thỉnh thoảng đi qua khu bệnh viện tôi lại ghé. Có lần tôi mua cho thằng bé một đôi dép mới. Nam cầm rất lâu rồi hỏi: “Chú cho con thật à? Mai chú có lấy lại không?”
Khoảng hơn một tháng sau Nam bị sốt. Tôi đưa hai bà cháu vào bệnh viện. Tôi gọi cho Lan. Khoảng một tiếng sau Lan mang cháo đến. Đó là lần đầu vợ tôi gặp Nam. Lan không hỏi gì nhiều. Cô ấy chỉ kéo ghế ngồi xuống, sờ chán Nam rồi hỏi con ăn được cháo không. Nam ăn được nửa bát thì lắc đầu bảo để phần còn lại cho bà. Lan phải múc một bát khác cho bà Tám ăn trước mặt thì nó mới chịu ăn nốt.
Từ đó hai vợ chồng tôi bắt đầu giúp Nam. Tôi liên hệ địa phương để hoàn thiện hồ sơ xác minh trẻ không rõ thân nhân. Chúng tôi không đưa cháu về nhà ngay, cũng không gọi cháu là con. Lan bảo nếu sau này tìm được bố mẹ Nam thì phải trả cháu về đúng gia đình.
Rồi bà Tám bắt đầu yếu hơn. Một đêm hàng xóm gọi báo bà ngất trong phòng. Trong hai tuần bà nằm viện, Nam không có ai ở cùng. Tôi bàn với cán bộ địa phương xin cho Nam tạm về nhà tôi. Ngày đầu bước vào nhà, Nam đứng ngay ngoài cửa rất lâu. Nó hỏi: “Con ở đây mấy ngày? Nếu bà không khỏe thì sao?”
……………………………………………
Sau đợt nằm viện đó sức khỏe bà Tám xuống rất nhanh. Một buổi chiều bà gọi riêng vợ chồng tôi lại. Bà nói nếu sức khỏe không khá lên, bà muốn nhờ chúng tôi tìm cho Nam một nơi tử tế. Lan hỏi nếu có ngày bố mẹ ruột của Nam tìm đến thì sao. Bà bảo thì phải cho họ nhận con.
Vợ chồng tôi bàn gần một tháng. Một tối Nam đã ngủ, Lan mới hỏi tôi: “Nếu bà Tám không nuôi được nữa mình nhận thằng bé được không anh?” Tôi hỏi Lan rằng em muốn nhận Nam vì thương nó hay vì em vẫn đang tìm hình bóng đứa con đã mất. Lan suy nghĩ rất lâu rồi nói: “Có thể ban đầu em thương nó vì em từng mất con, nhưng bây giờ em lo nó ăn chưa, học chưa, sốt thì em mất ngủ. Những chuyện đó là của Nam, không phải của đứa con năm xưa nữa.” Tôi cũng nói rõ nếu nhận Nam thì phải xác định đây là con mình thật sự. Không được sau này có con khác rồi phân biệt. Lan bảo: “Em chỉ sợ mình không đủ thời gian để nó tin rằng nó có nhà.”
Chúng tôi làm thủ tục đúng quy định. Trong lúc đó Nam vẫn tạm ở nhà tôi. Thằng bé ngoan đến mức khiến người lớn thấy thương. Có hôm làm rơi cái cốc nhựa, Nam tái mặt đứng sát tường rồi hỏi: “Con làm vỡ đồ có phải về không?” Tôi bảo cốc hỏng thì mua cái khác. Không ai đuổi con vì một cái cốc. Sau này khi lớn, nó kể chính câu ấy khiến nó bắt đầu tin rằng nhà tôi khác những nơi nó từng ở.
Lan phát hiện Nam có thói quen giấu đồ ăn. Buổi tối cô ấy dọn phòng thấy dưới gối có nửa cái bánh mì đã khô. Lan không mắng. Đến bữa tối cô ấy chỉ nói trong bếp lúc nào cũng có cơm, đói thì nói. Nam cúi mặt hỏi: “Mai vẫn có cơm hả cô?” Lan bảo ngày kia cũng có.
Ngày Nam chính thức về nhà, đồ của nó chỉ có một túi vải nhỏ. Trong túi ấy có mảnh vòng nhựa cũ của bệnh viện nhưng lúc đó chẳng ai để ý. Lan chỉ nghĩ đó là đồ người ta đeo cho trẻ ở một cơ sở chăm sóc nào đó nên gói lại cất vào tủ. Chính thứ tưởng như vô nghĩa ấy hơn hai mươi năm sau lại giúp chúng tôi lần về nơi Nam được sinh ra.
Những tháng đầu Nam ngủ rất chập chờn. Có hôm tôi đi công tác hai ngày, lúc về thấy nó đứng ở cửa nhìn. Tôi hỏi sao chưa ngủ, nó nói tưởng chú đi luôn rồi. Nó hỏi: “Nhà chú ở đây à?” Tôi nói ừ. Nó nhìn quanh rồi hỏi: “Nhà con cũng ở đây à?” Tôi bảo từ giờ là thế. Phải gần một năm sau Nam mới thực sự tin câu đó.
Bà Tám qua đời vào cuối năm ấy. Nam khóc rất nhiều. Sau đám tang nó lại trở về trạng thái sợ hãi như trước. Cứ hỏi Lan rằng bà đi rồi thì ai sẽ nuôi con. Lan ôm nó và bảo: “Bố mẹ nuôi con.” Cho đến vài tháng sau Nam bị viêm phổi phải nhập viện. Đêm đó Nam đang sốt, thấy tôi đứng dậy thì nắm tay rất chặt rồi buột miệng gọi: “Bố đừng về.” Tôi ngồi xuống, nắm tay nó rồi bảo: “Bố không về, bố ở đây.” Sáng hôm sau Nam nhìn Lan một lúc rồi gọi rất nhỏ: “Mẹ.” Từ hôm ấy trong nhà tôi không còn cô Lan, chú Hải nữa.
Tôi từng nghĩ đó là ngày mình trở thành bố của Nam. Hơn hai mươi năm sau tôi mới hiểu về huyết thống tôi đã là bố nó ngay từ đêm mưa năm ấy.
Nam lớn lên đi học nghề điện rồi xin vào làm. Càng trưởng thành nó càng bớt đi cái cảm giác lúc nào cũng phải chứng minh mình xứng đáng được ở lại trong nhà. Hồi nhỏ nó làm gì cũng sợ phiền. Lớn lên rồi mới biết cãi bố, biết đòi mẹ nấu món mình thích. Với tôi những cái rất đời thường đó mới cho thấy nó đã thật sự coi đây là nhà.
Lan thương Nam thì khỏi phải nói. Sáng nào Nam đi làm sớm Lan cũng dậy trước để nấu gì đó cho nó ăn. Có lần Nam mua xe máy cũ, Lan lo quá cứ tối đến là nhắc đi đường chậm thôi. Nam cười bảo mẹ nhắc cả trăm lần rồi. Lan nói: “Thì mẹ còn sống ngày nào mẹ nhắc ngày đó.”
Có một hôm Nam vừa cắt tóc ngắn. Lan nhìn nó rất lâu rồi nói: “Cái vành tai này giống…” Bà dừng lại. Có một lần, khoảng khi Nam 21 tuổi, Lan lấy cái hộp đựng đồ cũ của Nam xuống. Khi mở ra bà lại thấy mảnh vòng nhựa có ký hiệu mờ. Lan cầm lên rồi nói với tôi: “Anh có bao giờ nghĩ Nam chính là con mình không?” Tôi vẫn lắc đầu. Tôi nói mình hiểu bà nhớ con nhưng không nên để nỗi nhớ dẫn mình đến một kết luận không có căn cứ. Tôi còn lấy tuổi trên giấy tờ ra nói nếu Nam sinh theo hồ sơ thì nó nhỏ hơn con mình gần hai năm. Lan không tranh luận. Bà chỉ nói hồ sơ của nó vốn đâu có chính xác. Tôi vẫn gạt đi. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình đã đứng trước cánh cửa sự thật lần thứ hai mà lại tự tay đóng nó lại.
Khoảng thời gian đó sức khỏe Lan bắt đầu có dấu hiệu không tốt. Kết quả cho thấy bà có khối u. Nam về ngay trong đêm. Từ lúc đó cuộc sống nhà tôi đảo lộn. Nam xin chuyển bớt công việc để đưa mẹ đi viện. Có một đêm Lan đau nhiều, Nam ngồi xoa chân cho mẹ. Bà nhìn nó rất lâu rồi hỏi: “Nam này, con có còn muốn tìm bố mẹ ruột không?” Nam dừng tay nói giờ con không nghĩ nhiều nữa. Con có bố mẹ rồi.
Trong những tháng cuối, một hôm chỉ có hai vợ chồng trong phòng bệnh. Lan bảo tôi về nhà lấy cái hộp đồ cũ của Nam lên. Bà lấy mảnh vòng nhựa ra đưa cho tôi rồi nói: “Anh giữ cái này kỹ. Sau này nếu Nam còn muốn tìm nguồn gốc thì bắt đầu từ đây.” Lan nắm tay tôi rồi nói: “Anh đừng bỏ qua nữa.” Chỉ bốn chữ ấy thôi mà lúc đó tôi chưa hiểu hết.
Lan mất sau đó chưa đầy một tuần. Sau đám tang tôi cất đồ của Lan vào tủ. Chiếc hộp của Nam tôi để riêng theo đúng lời bà dặn.
Gần hai năm sau Nam gặp tai nạn khi đang làm việc. Một bác sĩ xem kết quả rồi hỏi tôi: “Trong gia đình anh có ai từng có rối loạn đông máu nhẹ không?” Tôi nói có. Vị bác sĩ nhìn sang Nam rồi hỏi: “Anh chắc đây là con nuôi chứ?” Ngay khoảnh khắc đó tôi nhớ đến chiếc vòng mà Lan đã bắt tôi phải giữ. Và lần đầu tiên sau hơn hai mươi năm tôi bắt đầu nghĩ một điều mà trước đó tôi luôn cố gạt đi. Biết đâu vợ tôi đã đúng thêm một lần nữa.
Tôi mang chiếc vòng đến bệnh viện nơi Lan từng sinh. Một chị làm lâu năm cầm chiếc vòng nhìn một lúc rồi nói loại này đúng là bệnh viện từng dùng. Tôi xin tra lại hồ sơ cũ. Trong cuốn sổ tiếp nhận có tên Phạm Thị Lan đúng ngày đó. Ở danh sách trẻ sinh trong đêm hôm ấy tôi nhìn thấy một dòng ghi sản phụ Phạm Thị Lan, bé trai sinh non. Phân mã trẻ chỉ còn đọc được mấy ký tự. Hai chữ đầu giống chiếc vòng, hai con số cuối cũng giống.
Tôi quyết định kiểm tra tuổi thật của Nam trước. Tôi tìm lại hồ sơ lúc Nam được làm giấy tờ lần đầu. Ngày sinh của Nam không dựa trên giấy chứng sinh. Tuổi chỉ được ước lượng dựa trên lời người chăm sóc và tình trạng phát triển lúc ấy. Một đứa trẻ bốn tuổi nhưng thấp bé có thể bị ước thành ba tuổi. Như vậy cái mốc tuổi mà suốt hơn hai mươi năm tôi dùng để khẳng định Nam không thể là con mình thực ra chưa bao giờ chắc chắn.
Tôi quay lại nơi Nam từng được chăm sóc trước khi đến với bà Tám. Tôi tìm được một nữ tu đã nghỉ. Khi tôi đưa ảnh chiếc vòng cho bà xem, bà nhớ có một bé trai được chuyển đến từ rất lâu, trên người có đúng loại vòng bệnh viện như vậy. Bà nói đứa bé đó không phải hai ba tuổi như giấy tờ về sau ghi đâu. Khi đến đây nó còn rất nhỏ, chắc chỉ mới vài tuần hoặc vài tháng. Bà đưa ra một mốc thời gian đúng năm Lan sinh con.
Hai bố con đến một trung tâm xét nghiệm độc lập. Tôi yêu cầu xét nghiệm quan hệ cha con. Đêm nào tôi cũng nghĩ đến Lan. Tôi bắt đầu sợ không phải kết quả sai. Tôi sợ kết quả đúng. Bởi nếu Nam thực sự là con ruột của tôi thì điều đó có nghĩa người phụ nữ tôi sống cùng hơn hai mươi năm đã nhìn thấy sự thật từ rất sớm. Còn tôi hết lần này đến lần khác bảo bà đừng nghĩ nữa.
Tôi tìm bà Nguyễn Thị Mai, nữ hộ sinh trực ca đêm. Khi tôi hỏi bà có từng đưa một bé trai sơ sinh đến cơ sở chăm sóc trẻ ở huyện bên không, bà tắt máy. Hai ngày sau tôi đến nhà. Tôi hỏi bà một câu: “Đứa con trai của Phạm Thị Lan đêm đó có thực sự chết hay không?” Bà nhìn tôi rồi hỏi: “Anh tìm được đứa bé rồi à?” Chỉ một câu ấy là chân tôi gần như không đứng vững.
Bà Mai kể đêm Lan sinh có hai bé trai sinh non được chuyển sang khu sơ sinh gần cùng thời điểm. Một bé suy hô hấp rất nặng, cấp cứu không thành công. Con của Lan cũng khó thở nhưng đáp ứng điều trị. Trong lúc mất điện, thẻ theo dõi bị đặt sai vị trí. Khi một bé tử vong người trực lấy nhầm thông tin sản phụ để báo ra ngoài. Đến lúc bàn giao sáng hôm sau họ mới phát hiện. Người phụ trách ca trực lúc đó hoảng sợ vì thông báo tử vong đã phát đi. Họ yêu cầu tạm thời giữ lại chờ lãnh đạo giải quyết. Sau đó có người nói nên chuyển tạm cháu sang một cơ sở thiện nguyện. Bà Mai là người trực tiếp bế cháu đi. Bà biết địa chỉ nhà tôi, biết tên vợ tôi. Vậy tại sao hai mươi năm bà không đến. Bà khóc và nói: “Tôi sợ.”
Tôi mở phong bì ADN. Dòng kết luận trên 99%. Nam hỏi: “Con là con của bố thật à?” Tôi gật đầu. Nó hỏi tiếp: “Vậy con cũng là con của mẹ Lan đúng không?” Tôi nói ừ. Tôi chỉ thấy Lan của hơn hai mươi năm trước đứng bên chiếc nôi trống hỏi tôi không ai nhìn thấy con chết, tại sao anh lại chắc con đã chết. Vợ tôi đã đúng.
Tôi dẫn con ra nghĩa trang thăm Lan. Hôm đó Nam mang theo bản sao kết quả ADN đến trước mộ mẹ. Nó đứng rất lâu rồi ngồi xuống lấy tay lau bụi trên bia. Nó nói: “Mẹ ơi, con tìm được mẹ rồi.” Nam để tờ kết quả xuống chiếc bia rồi nói thêm: “Mẹ đúng rồi. Con chưa chết.”
Tôi phải quay mặt đi. Suốt hơn hai mươi năm Lan không có một bằng chứng nào ngoài ký ức của một người mẹ. Vậy mà bà đúng từ đêm đầu tiên, đúng cả lúc nhìn chiếc vòng rồi bảo tôi đừng bỏ qua, đúng cả khi nói có những đứa trẻ đi rất xa rồi vẫn tìm được đường về nhà. Chỉ có chúng tôi là mất quá lâu để hiểu bà đang nói gì.
Có những đêm tôi vẫn ra trước bàn thờ vợ, rót chén nước rồi nói một mình: “Lan ơi, anh xin lỗi. Ngày ấy anh nên hỏi thêm một lần.” Nhưng sau câu xin lỗi tôi luôn nói thêm: “Con mình vẫn khỏe. Nó đang ở nhà.” Chỉ vậy thôi. Tôi muốn tin rằng nếu Lan còn điều gì chưa yên lòng thì ít nhất bà cũng không phải chờ con nữa. Bởi đứa trẻ bà tìm suốt bao năm chưa từng biến mất khỏi cuộc đời bà. Nó chỉ đi một vòng rất xa từ một đứa bé bị đưa nhầm khỏi bệnh viện thành cậu bé theo bà Tám bán từng tờ vé số trước cổng bệnh viện. Và chính ở nơi ấy bố nó đã đi ngang qua. Tôi không nhận ra con bằng máu mủ. Tôi nhận ra nó vì thấy thương. Lan cũng không nhận ra con bằng chứng cứ. Bà nhận nó về vì thấy thương. Hai mươi năm sau ADN mới nói cho chúng tôi biết tên thật của mối duyên ấy. Nhưng đến bây giờ điều tôi nhớ nhất vẫn không phải con số 99%. Tôi nhớ một thằng bé từng đứng trước cửa nhà hỏi tôi: “Nhà con cũng ở đây à?” Ngày ấy tôi trả lời từ giờ là thế. Bây giờ nếu được trả lời lại tôi sẽ nói với con: “Không phải từ giờ đâu Nam. Đáng lẽ ngay từ ngày con sinh ra, đây đã là nhà của con rồi.”




