Vợ hiếm muộn chi trăm triệu đi lễ cầu con, ai ngờ sau chùa có đứa trẻ giống chồng như đúc
Tôi quỳ xuống. Hai đầu gối đập xuống nền đất ẩm sau cơn mưa, bùn ngấm qua lớp vải quần tây đắt tiền, lạnh buốt. Cả đời tôi chưa từng cúi đầu trước ai. Ra đường, người ta gọi tôi là “anh Nghĩa”, khúm núm dạ vâng. Vậy mà hôm ấy, tôi quỳ trước một thằng bé sáu tuổi.
Nó gầy nhom, mặc chiếc áo lam cũ sờn cổ, chân đi đôi dép tổ ong ố vàng, quai bên phải đứt, buộc tạm bằng sợi dây chuối khô vòng qua gót. Tôi chìa hai tay ra, giọng vỡ vụn:
– Con ơi… gọi bố một tiếng thôi. Cho bố ôm con một cái thôi…
Nó không khóc. Mặt nó lặng như nước giếng. Nó chắp hai bàn tay đen nhẻm trước ngực, lùi lại mấy bước:
– Chú đi đi. Chú làm mẹ cháu khóc.
Chú. Con ruột tôi gọi tôi là chú. Chữ ấy sắc như lưỡi lam, rạch thẳng vào tim. Để hiểu vì sao một kẻ từng có tất cả lại quỳ ở đó, tôi phải kể lại từ ngày rằm tháng Bảy năm ngoái.
Tôi và Yến cưới nhau năm năm, sống trong căn biệt thự ba tầng, tiền tiêu không phải nghĩ. Ai cũng bảo tôi số hưởng: vợ giàu, bố vợ là sếp lớn trong ngành, còn tôi ngồi ghế phó phòng khi chưa đến bốn mươi. Nhưng năm năm, bụng Yến vẫn phẳng lì. Bác sĩ trong nước, ngoài nước đều lắc đầu.
Mẹ tôi – người đàn bà cả đời bươn chải, giẫm lên không biết bao nhiêu người để dựng nên cơ ngơi nhà họ Trọng – phát cuồng vì một đứa cháu đích tôn. Còn Yến thì sợ. Không đẻ được con trai, cái ghế con dâu của nó lung lay, tài sản nhà chồng có thể tuột khỏi tay. Thế là hai người đàn bà quyền lực nhất nhà tôi lao vào cúng bái như đi buôn.
Rằm tháng Bảy, nghe đồn có ngôi chùa cổ trên núi cầu gì được nấy, nhà tôi thuê hai xe mười sáu chỗ. Một xe chở ba người, xe kia tháo hết ghế để chất lễ: hai con heo quay bóng mỡ, xôi gấc ép khuôn chữ Lộc to bằng cái mâm, vàng mã chất thành núi. Yến thuê thêm chục ông xe ôm dưới chân núi, chỉ để khuân đồ theo hầu.
Bước vào sân chùa, Yến không chắp tay chào vị sư già nào. Nó dúi cọc tiền vào tay chú tiểu, hất hàm:
– Mang lên cho sư trụ trì. Nhà tao muốn mâm lễ to nhất đặt chính giữa. Dẹp mấy đĩa hoa quả lèo tèo kia đi.
Mẹ tôi thì thấy hòm công đức nào là nhét tiền vào hòm đó, vừa nhét vừa khấn oang oang xin “thằng cháu đích tôn”. Yến cười: “Mẹ yên tâm, con cúng bằng cả năm chùa này thu, Phật nào chẳng phải nể.”
Mùi nước hoa trộn với mỡ heo quay và khói nhang làm tôi buồn nôn. Tôi lách khỏi đám đông, vòng ra sân sau tìm chỗ hút thuốc. Tôi không biết mình đang bước thẳng vào bản án của đời mình.
Sân sau rợp bóng đa cổ thụ, chỉ có tiếng chổi tre xoẹt xoẹt, chậm và nhọc. Giữa sân là một thằng bé. Cán chổi dài gấp rưỡi người, nó phải kẹp vào nách, tì cả vai để đẩy từng búi lá đa ướt. Được ba bốn nhát lại dừng, thở hắt ra, nhưng không một tiếng than.
Cách bức tường chưa đầy hai mươi mét, vợ tôi đang rải tiền xin Phật nặn ra một đứa con. Còn ở đây, một đứa trẻ bằng xương bằng thịt sống lầm lũi như hạt bụi.
Điếu thuốc cháy tới đầu lọc, bỏng tay mà tôi không hay. Có cái gì đó bóp chặt lồng ngực. Tôi bước ra. Tiếng giày da nện xuống sân gạch làm nó dừng tay, quay lại.
Khoảnh khắc nó ngẩng mặt lên, mọi thứ xung quanh nhòe đi. Cái trán bướng, sống mũi thẳng, đôi lông mày rậm hơi xếch ở đuôi, cả cái cách mím môi khi gặp người lạ. Tôi đang nhìn chính mình của ba mươi năm trước.
– Cháu tên gì? Bố mẹ cháu đâu?
Nó chắp tay, cúi đầu:
– Nam mô A Di Đà Phật. Cháu tên An Bình, sáu tuổi. Thí chủ lạc đường ạ?
Thí chủ. Hai chữ lạnh như gáo nước đá. Rồi nó cụp mắt, giọng nhỏ lại:
– Cháu không có bố. Mẹ bảo cháu không có bố. Mẹ cháu đang tụng kinh dưới nhà ngang.
Sáu tuổi. Bảy năm trước. Một tia sét xẹt qua đầu tôi. Tôi đưa tay định xoa đầu nó, nó lùi phắt lại, mắt cảnh giác. Bàn tay tôi chơi vơi giữa không trung.
– Nghĩa! Mày trốn ra đây làm gì? Lộc xôi gấc đây, ăn đi cho có con!
Mẹ tôi bưng khay xôi bước tới, miệng càu nhàu. Rồi bà nhìn theo ánh mắt tôi. Cả người bà cứng đờ.
An Bình sợ, vội cúi xuống vơ lá vào sọt. Chiếc áo lam rộng thùng thình trễ xuống, để lộ cái gáy gầy. Ngay dưới chân tóc là một vết bớt đỏ tía hình nửa vầng trăng.
Máu trong người tôi đông lại. Sau gáy tôi, đúng chỗ ấy, cũng có một vết bớt y hệt. Ông nội tôi có, bố tôi có. Đàn ông dòng đích nhà họ Trọng, ai sinh ra cũng mang nó.
Choang! Khay xôi rơi, chữ Lộc vỡ nát, đỏ tung tóe dưới chân. Mẹ tôi giẫm lên đống xôi, lao tới chộp lấy hai vai thằng bé, gào như mê sảng:
– Trời Phật ơi, cháu tôi! Mẹ cháu tên Thương phải không? Phải không?…………..
……………………………………………
Thằng bé khóc thét, giãy giụa gọi mẹ. Mẹ tôi quay sang túm cổ áo tôi, móng tay cắm vào da:
– Con mày đấy, Nghĩa ơi! Nó không mất! Nó ở đây!
Tôi đứng như khúc gỗ. Bởi kẻ gây ra tất cả, không ai khác, chính là tôi.
Bảy năm trước, tôi chưa lấy Yến. Vợ tôi khi ấy là Thương, cô gái quê hiền lành tôi quen hồi đi công tác. Mẹ tôi chưa từng coi Thương là người. Thương gắp miếng thịt, bà lườm. Bố mẹ Thương gửi lên chục trứng gà, bà vứt vào sọt rác trước mặt con dâu. Còn tôi, thay vì che chở, tôi trốn vào những cuộc nhậu.
Rồi Yến xuất hiện, cùng cái ghế phó phòng mà bố nó nắm quyền quyết định. Mẹ tôi sáng mắt. Tôi bắt đầu thấy Thương quê mùa, thấy cô ấy là hòn đá cản đường.
Đêm cuối tháng Mười ấy, mưa quất rát mặt. Chiều đó Yến báo tin bố nó đã gật đầu. Tối, mẹ tôi ném vali của Thương ra giữa sân, đẩy cô ấy ngã xuống bùn. Thương run rẩy móc từ túi áo mưa ra một tờ giấy bọc nilon kỹ càng:
– Anh ơi… em có thai rồi. Sáu tuần. Đừng đuổi mẹ con em…
Tôi không xót. Tôi sợ. Nếu nhà Yến biết, tất cả tan thành mây khói. Tôi giật tờ siêu âm, xé vụn, ném vào mặt cô ấy:
– Cô đi với thằng nào rồi về đổ vỏ cho tôi? Cút!
Thương không gào. Cô ấy ngồi giữa vũng nước, nhìn những mảnh giấy nổi lềnh bềnh, rồi đứng dậy đi vào màn mưa, không cầm theo cả vali. Tôi đóng sầm cổng sắt và thấy nhẹ người. Nửa năm sau, tôi cưới Yến.
– An Bình, lại đây với mẹ.
Giọng nói ấy kéo tôi về sân chùa. Thằng bé chạy vụt tới, nấp sau lưng một người phụ nữ áo nâu sòng, đầu cạo nhẵn, tay lần tràng hạt. Gò má nhô cao, khuôn mặt tĩnh lặng đến lạ. Mẹ tôi lao tới, ngọt xớt: “Thương ơi, mẹ đây…”
Cô ấy chắp tay, nhìn chúng tôi như nhìn hòn đá ven đường:
– A Di Đà Phật. Thí chủ nhận nhầm người. Bần ni pháp danh Tuệ Tâm. Đứa trẻ này mồ côi, không cha.
Không oán, không hận. Coi như tôi chưa từng tồn tại. Cô ấy nhắc đến hai chữ “chính quyền”, và tôi – lại một lần nữa – lôi mẹ chạy trốn như kẻ trộm.
Ở góc tường, Yến đứng khoanh tay, mặt lạnh tanh. Nó đã thấy hết.
Về đến nhà, nó ngồi vắt chân trên sofa, ra điều kiện với mẹ tôi: đón thằng bé về, nhưng nó phải gọi Yến là mẹ, Yến đứng tên nhận nuôi, nắm quyền tài sản; còn Thương nhận một cục tiền rồi biến mất vĩnh viễn. Mẹ tôi chần chừ chưa đầy mười giây rồi gật. Tôi đập bàn phản đối. Yến chỉ ngước mắt:
– Ghế anh ngồi ai cất nhắc? Xe anh đi tiền ai mua? Bảy năm trước anh xé tờ siêu âm để chui vào nhà tôi, giờ đóng vai người cha tử tế thì muộn rồi.
Tôi lên phòng, trùm chăn.
Những đêm sau, đám người lạ ném mắm tôm, dầu nhớt vào sân chùa, mở loa kẹo kéo chát chúa giữa giờ kinh, réo pháp danh Tuệ Tâm mà bôi nhọ. Sáng ra, thằng bé sáu tuổi lại ôm chổi dọn những thứ bẩn thỉu do chính người nhà bố nó ném vào. Có đêm tôi lái xe lên tận chân núi, tay sờ tấm thẻ ngành trong túi áo… rồi gục đầu khóc trên vô lăng, và lùi xe về.
Rồi Yến mang năm trăm triệu cùng hai cán bộ xã lên chùa, dọa đưa thằng bé vào trại trẻ vì không giấy tờ. Chiều ấy, điện thoại tôi đổ chuông.
– Anh Nghĩa, tôi là Thương. Anh nợ tôi một mạng. Nếu vợ anh còn đụng vào con tôi, tôi thề có Phật, mẹ con tôi thà cùng nhau xuống đáy vực sau chùa.
Tôi lên núi. Không phải để bảo vệ họ, mà để khuyên Thương nhận tiền, “vì tương lai của con”. Cô ấy hắt nguyên chậu nước giếng vào mặt tôi:
– Tôi thà để nó quét lá đa cả đời còn hơn làm cháu đích tôn nhà các người. Cút!
Rằm tháng Tám, Yến dẫn hai mươi gã xăm trổ lên chùa giữa buổi phát quà Trung thu. Một gã lôi chân An Bình trên nền gạch, thằng bé cào bật cả móng tay, gào “mẹ ơi cứu con”. Thương cắn vào tay hắn, lãnh một cú đấm rách khóe môi, vẫn cuộn người che con. Tràng hạt đứt tung, hạt gỗ lăn lách cách khắp sân.
Tôi đã bám theo từ thành phố. Nhìn cảnh ấy, cái gì đó trong tôi đứt phựt. Tôi rút cây cờ lê trong cốp xe, lao vào. Bảy năm hèn hạ dồn cả vào cánh tay. Rồi một cây gậy giáng xuống lưng, tôi ngã quỵ.
Người đứng chắn trước mặt tôi, dang rộng hai tay, máu còn dính nơi khóe miệng, lại chính là Thương.
– Muốn đánh anh ấy, bước qua tôi trước.
Người dân giơ điện thoại quay. Yến biết không thể làm tới. Nó lên xe, ném lại một câu: “Anh chọn đường này thì đừng bao giờ về nữa.”
Tôi lồm cồm bò dậy, định chạm vào vai Thương. Cô ấy lùi lại, ánh mắt không còn hận, chỉ còn xa lạ:
– Anh không phải cha nó, cũng chẳng còn là chồng tôi. Anh chỉ là người qua đường gây ra bão.
Yến ném đơn ly hôn ra cổng cùng vali quần áo. Bố nó gọi một cuộc điện thoại, tôi bị giáng xuống làm nhân viên photo tài liệu. Mẹ tôi tai biến, nằm liệt nửa người, mắt dại nhìn trần nhà, muốn nói một câu xin lỗi mà không nói được. Cơ ngơi cả đời bà vơ vét, Yến thâu tóm sạch.
Tháng nào tôi cũng lên núi, nấp sau gốc đa, nhìn con quét lá. Cho đến một chiều sau mưa, tôi không chịu nổi nữa, bước ra, quỳ xuống trước nó. Và nó bảo: “Chú đi đi. Chú làm mẹ cháu khóc.”
Lúc ấy tôi mới thấy, nơi bậc thềm nhà ngang, Thương đứng quay lưng, đôi vai gầy run lên dưới lớp áo nâu.
Tôi đứng dậy, phủi bùn, đi xuống núi. Sau lưng, tiếng chổi tre lại vang lên, xoẹt… xoẹt… chậm và nhọc, như thể chưa từng có ai ghé qua.
Bây giờ, mỗi khi trời mưa, tôi lại nghe tiếng giấy rách. Mảnh giấy siêu âm ấy, tôi xé trong một giây. Còn tôi, phải dùng cả phần đời còn lại để nhặt nó lên.
Mà không bao giờ nhặt đủ.





