Kho vàng giữa chiến trường Campuchia: lời nguyền đẫ;m má;u của những người lính Sư đoàn 4…..
—
Tôi bò lên trên nền đất rừng, từng tấc một, mồ hôi và máu hòa vào bùn đất. Phía trước, khẩu 12,7 ly của bọn Pôn Pốt vẫn khạc đạn như mưa, đạn xé gió rít sát bên tai tôi. Tôi cảm nhận được từng viên đạn cắm xuống thân cây quanh mình. Cách tôi khoảng 60 mét, đó là vị trí của khẩu đại liên đang ngăn cản toàn bộ đội hình của chúng tôi. Tôi là lính trinh sát Sư đoàn 4, năm 1979, và câu chuyện của tôi bắt đầu từ đây, giữa lửa đạn và cái chết đang rình rập từng giây.
Chúng tôi hành quân từ biên giới vào sâu đất Campuchia, vừa đi vừa đánh. Những ngày đầu, khi sư đoàn còn cơ động bằng xe, tôi ngồi trên chiếc GMC ngắm cảnh quan xung quanh. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Pháo địch từ dãy núi Tượng Lăng bắn cấp tập vào đội hình. Trái pháo gầm lên trước mặt, bụi đất tung mù mịt. Tôi nhìn thấy các đồng chí trong trung đoàn khác đang tiến lên, nhưng chúng chống trả quyết liệt. Xe tăng của ta bị dính lầy dưới cánh đồng, không thể phối hợp với bộ binh. Sư đoàn phải tung thêm trung đoàn nữa lên hỗ trợ. Đêm đó, chúng tôi nằm lại trên xe, ăn cơm vội và đào công sự phòng khi bọn chúng tập kích.
Sáng hôm sau, tiếng súng đạn dồn dập từ phía trước vọng về. Pháo của ta bắn dữ dội, rồi một đám cháy lớn bốc lên với khói bụi mù mịt. Các cán bộ nói bọn địch đốt kho xăng trước khi chạy. Đội hình lại tiến lên. Chúng tôi vượt qua những vùng đất hoang, những phum sóc bỏ không. Đến thị xã Tà Keo, trận đánh thực sự bắt đầu.
Tôi nhớ cái trưa hôm đó, khi chúng tôi đang tiến về thị xã, bỗng nhiên một ao sen hình tròn hiện ra trước mặt. Phía sau là năm dãy nhà ăn tập thể của bọn chúng với những cái chảo lớn đường kính một mét. Than còn nóng. Đại đội trưởng báo động, nhưng chưa kịp làm gì thì đạn địch đổ xuống như mưa. 12,7 ly của chúng tạo ra âm thanh đáng sợ – thứ âm thanh mà mỗi người lính đều biết đó là báo hiệu của tử thần.
Ba lần bọn chúng xung phong, ba lần bị đánh bật lại. Mỗi lần chúng tấn công là một lần để lại xác chết. Đất ruộng mùa khô cứng như đá, đào công sự đầy mồ hôi và máu. Tôi bắn hết năm trái B41, đạn dần cạn. Đêm xuống, hai bên tạm yên. Đại đội mất ba người, sáu người bị thương. Trung đội tôi hy sinh một, bị thương hai. Tôi còn nguyên vẹn, nhưng tôi biết đó chỉ là vấn đề thời gian. Cái chết đang ở đâu đó, chỉ chờ một sơ suất nhỏ.
Đêm đó chúng tôi ăn lương khô thay cơm, sợ ánh sáng lọt ra ngoài để bọn Pôn Pốt bắn cối vào. 4 giờ sáng, anh nuôi nấu cơm trong bóng tối, chúng tôi dùng áo mưa che kín để không một tia sáng nào lọt ra. 5 giờ sáng, tiếng pháo của ta nổ vang trên thị xã. Lệnh tấn công.
Khoảnh khắc định mệnh đến khi chúng tôi vào thị xã và tiến đến một căn nhà nhỏ. Trung đội trưởng Tường bảo kiểm tra kỹ xem có mìn không. Chúng tôi đi vòng quanh, không thấy gì bất thường. Anh Thái bắn hai phát AK vào ổ khóa, cánh cửa bật mở. Bên trong, những hộp vuông vắn xếp cao gần nửa mét. Tôi giơ chân đá vào một hộp, vàng văng ra tung tóe – vàng thỏi, nhẫn, dây chuyền. Cả trung đội đứng lặng. Đó là số vàng bọn chúng tịch thu của dân. Vài phút sau, đại đội trưởng Hoàng có mặt. Anh rút khẩu K54, quát lớn: “Bỏ hết vàng lại, không ai được lấy!” Ai cũng vội vã chạy ra ngoài. Nhưng vài người vẫn giấu được một ít trong túi. Trong đầu tôi lúc đó, giữa ranh giới sống và chết trong chiến đấu chỉ là gang tấc, vàng không mua được sinh mạng.
Thế nhưng có điều gì đó kỳ lạ xảy ra sau ngày phát hiện kho vàng. Ngày hôm sau, khi đơn vị truy quét về hướng tây nam, trung đội của tôi vướng phải mìn. Ba người của tiểu đội 1 và tiểu đội 2 hy sinh tại chỗ, bốn người bị thương. Anh Tuế, người mập mạp, nước da ngăm đen, tóc quăn tít, còn kịp gọi “Mẹ ơi” rồi tắt thở. Đôi mắt vẫn mở lớn. Bọn địch đã cài mìn theo kiểu nối tiếp, một trái nổ kéo theo những trái sau. Sau tiếng mìn là tiếng súng của chúng. Đại đội trưởng ra lệnh cẩn thận, nhưng mìn vẫn tiếp tục nổ ở các trung đội khác. Thêm một chiến sĩ hy sinh, nhiều người bị thương. Nỗi ám ảnh về mìn ghê gớm hơn cả súng đạn. Khi nghe tiếng súng, tôi biết mình có thể né tránh, nhưng mìn thì chịu. Hôm đó, tiểu đoàn trinh sát mất ba người, trong đó có trung đội trưởng trung đội 1. Tin đồn bắt đầu lan ra: đại đội 3 gặp vàng nên bị suy, trung đội vào kho vàng đầu tiên nên chết nhiều nhất. Tin đồn hư thực không biết, nhưng sau trận đó, ai có giấu vàng cũng vứt sạch.
Rồi sư đoàn nhận lệnh cơ động lên Battambang. Trên đường đi, chúng tôi bị phục kích tám lần trong ba ngày. Đến ụ Đông, chúng tôi được nghỉ một ngày – lần đầu tiên kể từ khi đánh cửa mở. Ai cũng hôi rình, quần áo rách như xơ mướp. Anh Hiển quê Hà Bắc, quần rách ở hai đầu gối, bèn bận ngược phía trước ra sau. Ai nhìn cũng cười lắc đầu. Anh ta lý sự: “Điều lệnh quân đội làm gì có quy định cấm bận quần phía trước ra phía sau?” Chúng tôi chỉ biết cười, vì trong rừng, ai cũng rách hết. Ngày nghỉ ngắn ngủi chúng tôi dùng để tắm giặt, và cả để đánh bài. Nhưng niềm vui chẳng được bao lâu. Lệnh từ Quân khu: sư đoàn phải về để lấy lại Tà Keo.
Con đường về đầy xác xe vận tải bị đốt cháy. Những chiếc xe mang tên Hậu Giang, An Giang, Cần Thơ, Cửu Long, Tiền Giang nằm cháy đen dọc lộ 3. Bọn Pôn Pốt đã phục kích, khóa đầu khóa đuôi đoàn xe vận chuyển lương thực của ta, bắn đốt gần 100 chiếc.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Ngày 15 tháng 1 năm 1979, sư đoàn dùng tổng lực đánh vào căn cứ của chúng ở ụ Đông. Trung đoàn 20 đánh từ phía sau, tiểu đoàn trinh sát đánh từ phía trước. Bốn chiếc xe tăng lao lên, nhưng hỏa lực của địch cực mạnh. Chúng có 12,7 ly, DKZ, B40, B41, cối 82 – hỏa lực mạnh hơn ta rất nhiều. Xe tăng dũng mãnh nhưng vẫn phải chạy lòng vòng tránh đạn. Bộ binh của ta lợi dụng cây cối tiến lên, nhưng chỉ cách chúng 100 mét là dậm chân tại chỗ. Thương binh và tử sĩ nằm la liệt. Trung đoàn 20 từ sau đánh tới cũng bị chặn lại. Trận đánh kéo dài trong thế giằng co.
Tôi nhìn thấy khẩu 12,7 ly của chúng. Nó khạc đạn liên tục, ngăn không cho quân ta tiến lên. Anh Tùng bên trung đội 1 vác B40 tìm cách tiêu diệt nó, nhưng chúng phát hiện, một trái B41 phát nổ ngay nơi anh ẩn nấp. Anh bị thương nặng, phải đưa về tuyến sau. Anh Linh, trung đội trưởng của tôi, gọi lớn: “Mày bò lên! Tìm cách cho nó câm họng!” Từ chỗ tôi đến khẩu đại liên 12,7 khoảng 60 mét. Tôi bò từ từ, lợi dụng gốc cây và bụi lùm che khuất. Khi cách chúng hơn 40 mét, tôi nấp ở gốc cây lớn, bình tĩnh ngắm, bóp cò một phát trúng. Vừa bắn xong, tôi nhảy ngay sang vị trí khác – và lập tức nghe tiếng B40, B41 của chúng bắn vào chỗ cũ. Khẩu 12,7 lặng tiếng hơn nửa phút, rồi lại tiếp tục khạc đạn. Có lẽ thằng pháo thủ bị thương hoặc chết, thằng khác thay nó bắn. Các xe tăng của ta điên tiết, quay nòng súng hỏa lực vào chỗ phát ra tiếng súng, nhả đạn xối xả. Cuối cùng, khẩu súng của chúng im bặt.
Chúng tôi xông lên, tiếng hô xung phong vang dậy cả cánh rừng. Nhưng rồi tôi nghe thấy tiếng hét của đồng đội. Anh Hoàng, đại đội trưởng của tôi, người đã từng sống sót qua 81 ngày đêm thành cổ Quảng Trị, người đã tham gia trên 100 trận đánh, đang nằm đó, một mảnh đạn m79 găm vào ngực trái. Tôi lao đến, kéo anh về vị trí ẩn nấp, nhưng máu trong miệng anh trào ra, đôi mắt nhắm nghiền. Anh đã tắt thở. Mấy giây trước đó, anh còn đang truyền lệnh cho tôi. Tôi không nghe rõ vì tai tôi ù đi sau bốn trái B41, nhưng tôi nhìn thấy anh đang tiến về phía tôi. Rồi anh ngã xuống. Anh ra đi, để lại cha mẹ già, người vợ trẻ, hai đứa con thơ. Súng đạn thật vô tình.
Sau trận đó, anh Linh thay anh Hoàng chỉ huy đại đội. Anh Linh người Bến Tre, tính nóng như lửa, nhưng gan dạ phi thường. Anh lệnh cho các trung đội bắn cối 60 vào rặng tre nơi khẩu 12,7 đang khạc đạn. Đạn cối rót xuống, tiếng nổ vang dội. Tiếng súng bên địch ngớt dần. Chúng tôi xông vào rặng tre. Chúng đã bỏ chạy. Bên trong chỉ còn hai xác pháo thủ 12,7, cách 30 mét là xác thằng bắn cối 62. Bọn chúng bị khóa chân bằng dây xích dài hơn 10 mét vào khẩu súng. Xung quanh là thùng đạn đầy. Chúng đã rút vào thời điểm anh Hoàng hy sinh, để lại ba thằng chết với vũ khí đánh nghi binh. Tụi này thật cáo già.
Những ngày sau đó, chúng tôi liên tục truy quét. Có ngày gặp cả đại đội lính Pôn Pốt, bao giờ chúng cũng thua chạy. Nhưng có một chuyện làm tôi nhớ mãi. Trên đường truy quét, chúng tôi gặp một đoàn người dân Campuchia trở về quê cũ. Quần áo lôi thôi, tay xách nồi niêu, xoong chảo. Một bà mẹ bế trên tay đứa trẻ khoảng 4 tuổi, gầy đen, mặt nhắm nghiền, ngồi bên vệ đường. Nước mắt bà lăn dài. Qua anh phiên dịch, bà nói: “Đói quá, không còn sức bước nổi.” Tôi mở ba lô, lấy phong lương khô và ít sữa, đường còn lại đưa cho bà, rồi bước đi. Những người đi sau tôi cũng đưa tay móc đồ trong ba lô để giúp đỡ. Hình ảnh ấy đeo bám tôi suốt nhiều năm sau.
Đến tháng 2, chúng tôi nhận tin vui. Đồng chí Thượng tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, đến thăm sư đoàn. Ông mang theo sữa, đường, thuốc lá. Nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn. Gần như ngày nào chiến sự cũng xảy ra. Nhiệm vụ của tiểu đoàn trinh sát là bảo vệ sư đoàn bộ, nhưng ở thời điểm này, chức năng của lính trinh sát cũng giống như lính bộ binh. Sư đoàn điều động chúng tôi đến đâu, chúng tôi đến đó.
Tôi nhớ một lần, khi đang hỗ trợ tiểu đoàn 2 trung đoàn 2, chúng tôi vòng sau lưng địch. Trận chiến ác liệt. Cả hai đại đội trinh sát và tiểu đoàn 2 tấn công từ hai hướng. Địch cố thủ trong rặng tre dày đặc. Đạn các loại bắn vào chẳng hề hấn gì. Chúng di chuyển nhanh dọc rặng tre, vừa bắn ở vị trí này, vừa biến mất ở vị trí khác. Chúng tôi phải dùng B40, B41 bắn vào rặng tre. Lửa bắt đầu cháy, khói bụi bốc lên mù mịt, nhưng chúng lại chuyển sang rặng tre khác. Và rồi, một lần nữa, tôi thấy cái chết cướp đi đồng đội mình. Anh Hoàng, lần thứ hai trong một tháng. Sự mất mát này như một vết thương không bao giờ lành.
Đến giờ, hơn 40 năm trôi qua, tôi vẫn không thể quên những ngày tháng ấy. Không thể quên mùi thuốc súng, tiếng đạn xé gió, và những khuôn mặt của đồng đội đã nằm lại trên đất bạn. Không thể quên anh Hoàng, người đã sống sót qua 81 ngày đêm Quảng Trị, đã qua cả trăm trận đánh, lại ngã xuống ở một rặng tre nhỏ giữa rừng Campuchia. Không thể quên người mẹ bế con bên vệ đường, ánh mắt cầu xin của bà khi nhận gói lương khô từ tay tôi. Cuộc chiến đã đi qua, nhưng những vết sẹo còn mãi.
Tôi từng nghĩ, nếu hôm đó tôi đến sớm hơn một chút, nếu tôi nghe rõ lệnh của anh Hoàng hơn, liệu anh có còn sống? Nhưng trong chiến tranh, không có “nếu”. Chỉ có sinh và tử, và ranh giới đó mong manh như sợi tóc. Vàng kia không mua được sinh mạng, và mọi của cải trong kho báu cũng chẳng thể mang trở lại những người đã nằm xuống. Đến hôm nay, tôi vẫn mang trong người mảnh đạn nhỏ ở ngón tay, một vết sẹo nhắc tôi về cái giá của hòa bình. Và tôi biết, tôi sẽ không bao giờ ngừng tự hỏi: liệu có bao giờ chiến tranh thực sự kết thúc, hay nó chỉ đổi hình dạng trong tim mỗi người lính từng bước qua lửa đạn?





