Bắt Được Tên Chỉ Huy Pol Pot Khét Tiếng, Nhưng Điều Hắn Thú Nhận Mới Thật Sự K;inh Hoàng….

Bắt Được Tên Chỉ Huy Pol Pot Khét Tiếng, Nhưng Điều Hắn Thú Nhận Mới Thật Sự K;inh Hoàng….
Tôi vẫn nhớ rõ cái đêm ấy, đêm không trăng, trời như bị phủ bởi một tấm chăn dày đen kịt. Mùi đất ẩm trộn với mùi thuốc súng cứ lẩn quẩn quanh mũi tôi, cái mùi mà dù có sống thêm bao nhiêu năm tôi cũng không thể nào quên được. Chúng tôi, một tổ đặc công 12 người, nhận lệnh xuất kích sau một tin mật báo khẩn. Một đơn vị Pôn Pốt quy mô tương đương một đại đội đang tập kết tại vùng rừng thưa cách biên giới chỉ khoảng ba cây số. Chúng có vũ khí mạnh, lương thực dồi dào và điều đáng lo hơn cả, chúng đang lên kế hoạch đột kích vào làng Prasat, nơi có nhiều dân thường và cả trạm quân y của ta. Tôi là Huy, trung đội phó của tổ đặc công. Người nhỏ con nhưng được anh em gọi là “trồn đất” vì khả năng bò rừng, leo núi luồn sâu như ma rừng. Tổ trưởng của tôi là anh Thống, người quê Quảng Bình, từng đánh B52 ở Trường Sơn, bản lĩnh và quyết đoán. Đôi mắt anh lúc nào cũng sâu thẳm như đọc được trước ba bước đi của địch. Chiều hôm đó, khi chúng tôi vừa ăn xong bát cơm trộn mắm cá khô còn dang dở, anh Thống gọi tôi vào góc lán: “Huy, thay đồ đi, đêm nay đi sớm, mật báo mới về nặng đấy.” Tôi gật đầu, không hỏi nhiều. Trong đơn vị đặc công, chúng tôi đã quen với những cuộc xuất kích bất chợt, quen với việc không biết mình sẽ trở về hay nằm lại nơi rừng sâu.
Tôi lặng lẽ khoác bộ quần áo rằn ri, móc dao găm vào thắt lưng, kiểm tra khẩu AK, lên cò, lắp nòng giảm thanh. Mỗi người trong tổ ai cũng lặng lẽ như những cái bóng, không ai nói lớn tiếng. Kinh nghiệm chiến trường đã dạy chúng tôi rằng im lặng chính là sự sống. Một tiếng động nhỏ cũng đủ khiến mạng mình gửi lại rừng sâu. Gần 19 giờ, trời bắt đầu tối hẳn, mưa bụi rơi lất phất. Tổ trinh sát dẫn đường, hai người dân Khmer thân cận với ta đã chờ sẵn ở bìa rừng. Một người trong số đó là ông So Vát, một lão già gầy gò, từng là tù nhân của bọn Pôn Pốt, trốn được rồi quay lại giúp đỡ bộ đội Việt Nam. Ông nói giọng Khmer lẫn tiếng Việt cọc cằn: “Nó đông lắm, kho lương có súng lớn, chỉ huy tên Sarun độc ác lắm, bắn cả trẻ con.” Tôi siết chặt báng súng. Những thông tin như thế không còn lạ gì với chúng tôi, nhưng lần nào nghe vẫn khiến tim nghẹn lại. Tổ đặc công chúng tôi đã từng nhìn thấy xác dân bị cột dây mìn, phụ nữ mang thai bị mổ bụng để tuyên truyền chính sách thanh lọc giống nòi của bọn điên rồi ấy. Lúc ấy tôi chỉ muốn chĩa súng vào chúng và siết cò. Nhưng lý trí giữ chúng tôi lại – làm đặc công phải lạnh như thép, phải dùng đầu nhiều hơn tay.
Chúng tôi bắt đầu luồn sâu vào rừng. Cây cối rậm rạp, dây leo quấn quanh, đất trơn như mỡ, mỗi bước đi đều phải dò dẫm, mắt quét từng cành cây, từng vệt đất sáo trộn. Địch mà đặt bẫy, chỉ cần một sơ suất là biến thành than. Đi đầu là anh Thống, sau lưng là tôi, rồi đến Thái – xạ thủ B41, thằng nhỏ người miền Tây vui tính nhưng bắn pháo dọi như thần. Cứ thế từng người bám gót nhau, di chuyển theo hình rắn trườn. Tiếng côn trùng và lá khô là âm thanh duy nhất trong đêm. Sau gần một giờ, ông So Vát đột ngột đưa tay dừng lại, chúng tôi dừng theo. Ông chỉ vào vết bánh xe bò còn in trên đất: “Hôm qua tụi nó kéo gạo từ hướng tây về trại dưới kia.” Anh Thống nhìn theo, khẽ gật đầu – đó là dấu hiệu tốt, nếu chúng đang chở gạo, nghĩa là khu vực gần đó là điểm tập kết, có thể là nơi đặt chỉ huy. Tiến thêm vài trăm mét, tiếng cười nói khẽ vang lên. Lính Pôn Pốt thường nghỉ trong rừng rậm nên lơi lỏng cảnh giác. Chúng tôi bò lên gò đất, nằm rạp xuống. Phía xa, dưới ánh sáng lờ mờ của vài chiếc đèn dầu, tôi thấy một khu lán lớn bằng gỗ có hàng chục bóng đen đang ăn uống nói cười. Một dãy lán khác thấp hơn, rất có thể là nơi chứa vũ khí. Anh Thống đưa ống nhòm, nói khẽ: “Đại đội thật rồi, ước chừng khoảng 50 đến 60 tên, có thằng mang đài, chắc là chỉ huy.” Tôi lẩm bẩm: “Nếu dọn sạch bọn này trước khi chúng tràn về làng, mình sẽ cứu được hàng trăm người.” Nhưng cũng chính lúc ấy, một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi khi phát hiện phía sau lán chính có một căn hầm cửa mở nửa chừng, hai tên gác mặc áo đen quấn khăn đỏ – dấu hiệu của đội bảo vệ trung tâm chỉ huy Pôn Pốt. Anh Thống cũng nhìn thấy. Anh quay sang tôi thì thầm: “Ta không được đánh liều, phải nắm rõ đội hình, thời gian đổi gác rồi mới lên kế hoạch tóm gọn. Bắt sống chỉ huy là lệnh trên.” Tôi gật đầu. Cuộc chiến này không chỉ cần súng mà còn cần đầu óc và sự kiên nhẫn. Vũ khí mạnh nhất của đặc công không phải AK mà là thời gian.
Chúng tôi nằm im tại chỗ đến gần 4 giờ sáng. Suốt thời gian đó, tôi ghi nhớ từng bước chân của bọn gác, vị trí bẫy mìn của chúng, chỗ nào là lối đi chính, chỗ nào có hầm ngầm. Tôi còn phát hiện ba tên lính gác thay ca mỗi hai giờ, đèn tắt vào lúc 1:30 và cứ 30 phút lại có tiếng còi nhỏ để đổi hướng gác. Khi trời chạng vạng sáng, chúng tôi lặng lẽ rút về vị trí an toàn. Trong lán trinh sát, anh Thống mở bản đồ, dùng đất vẽ tay sơ đồ căn cứ địch. Mọi ánh mắt đổ dồn vào bức vẽ, không ai nói một lời. Tôi thấy mắt Thái long lên như lửa: “Nếu mình dàn đúng đội hình này, chia ba mũi, bắn tỉa đúng hai thằng gác cửa hầm rồi thọc sâu bắt thằng chỉ huy…” Anh Thống gật đầu: “Đúng, nhưng ta không đánh liều, đợi thêm một đêm để nắm chắc, sau đó ta muốn bọn này không còn móng nào chạy thoát.” Tôi nhìn ra ngoài rừng, nơi nắng đầu ngày vừa hé lên từng tia trên ngọn cây. Một trận đánh lớn đang đến, nhưng quan trọng hơn là chúng tôi sẽ không chỉ bắn mà sẽ bắt sống kẻ đứng sau tội ác. Cái đầu hắn sẽ nói ra nhiều hơn tất cả, và cũng có thể là thứ khiến chúng tôi rùng mình thật sự.
Sáng hôm đó, khi mặt trời chưa kịp hững hẳn, chúng tôi đã tranh thủ ăn một bữa cơm vắt với chút muối vừng. Chẳng ai nói gì, gương mặt người nào cũng đăm chiêu như có lửa cháy trong lòng. Anh Thống ra hiệu tập trung, chỉ vào ba hướng bao vây xung quanh vị trí địch đã được trinh sát đêm trước ghi lại tỉ mỉ: “Mũi một, tôi và Thái sẽ đánh thốc vào trung tâm khống chế hầm chỉ huy. Mũi hai, Huy cậu dẫn theo ba người bọc bên phải, vô hiệu hóa đám gác kho đạn. Mũi ba, Lâm dẫn hai tay thiện xạ vòng trái đánh tỉa tiêu quân gác và bít đường chạy.” Anh dừng một nhịp rồi nhìn từng người: “Không nổ súng sớm, không gây tiếng động, ưu tiên dùng dao tay không, chỉ khi bị lộ mới nổ súng. Tên chỉ huy phải còn sống. Hiểu chưa?” Tất cả đồng thanh đáp nhỏ nhưng dứt khoát. Chúng tôi rút lui về khu rừng rậm phía Bắc để nghỉ ngơi và chuẩn bị cho cuộc đột kích vào đêm thứ hai. Nhưng không có giấc ngủ nào thực sự sâu. Mỗi người đều nằm lặng, mắt mở thao láo nhìn lên tán cây. Tôi có cảm giác như mỗi tán lá đều đang thì thầm điều gì đó – có thể là mách bảo, có thể là cảnh báo, nhưng dù là gì thì tâm trí chúng tôi cũng đã quyết. Chiều xuống, rừng như ngột ngạt hơn, mây đen kéo tới từng mảng. Tôi và Lâm được lệnh đi trước, men theo con suối cạn để kiểm tra địa hình phía đông, hướng mà đêm qua ta chưa kịp thăm dò. Chúng tôi bò dọc bờ suối gần một cây số thì phát hiện một đống than củi tàn vẫn còn âm ấm, có cả vết chân giẫm nát lá cỏ, dấu mỡ heo rơi vương vãi. Lâm nói khẽ: “Có lẽ tụi nó vừa mới nhóm lửa nấu ăn ngoài bìa, không nghĩ có đặc công Việt Nam đâu.” Tôi nhìn kỹ rồi khẽ nói:
“Nhưng cũng có thể là chốt canh phụ, nếu ta đánh mà để tụi này báo động thì hỏng.” Chúng tôi vẽ sơ đồ lại rồi quay về báo cho anh Thống. Anh cau mày: “Chúng coi thường mình nhưng vẫn cẩn trọng, vậy thì càng phải tính kỹ hơn. Đêm nay cậu dẫn tổ đi theo lối suối cạn vô hiệu hóa chốt canh đó trước khi đánh chính diện.” Tôi đáp, trong lòng thấy hơi lạnh. Nếu sai sót, tổ tôi sẽ là nhóm đầu tiên chạm địch, không còn đường rút. Trời tối dần, mưa bắt đầu rơi rả rích. Chúng tôi bôi bùn lên mặt, trét lên tay chân cho trùng màu lá rồi siết chặt súng. Người nào cũng mang theo một dao găm, một bình nước cạn và khẩu AK đã lên đạn. Thái còn đeo thêm B41 nhưng không mang đạn nổ, chỉ mang đạn xuyên phòng khi gặp xe cơ giới. Gần 20 giờ, đội hình đặc công bắt đầu di chuyển, chia thành ba hướng như kế hoạch. Tôi và tổ của mình luồn theo suối cạn, nơi đầy rắn rết và mùi hôi của xác thú chết. Mỗi bước đi đều phải đặt mũi dao xuống trước để dò – tôi từng thấy đồng đội mình mất mạng chỉ vì một mảnh tre sắc được bọn Pôn Pốt gài vào bùn như chông độc. Càng đi sâu, mưa càng nặng hạt. Nhưng chính vì thế mà tiếng mưa lại là đồng minh, nó che tiếng bước chân, che tiếng thở nặng nhọc của anh em….
Khi cách điểm canh khoảng 50 mét, tôi ra hiệu dừng lại. Trước mắt là một cái chòi nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, hai tên gác đang co ro trong mưa, khẩu CKC gác ngang đầu gối. Tôi ra dấu cho Hoàng………………………
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
……………………………………………
Khi cách điểm canh khoảng 50 mét, tôi ra hiệu dừng lại. Trước mắt là một cái chòi nhỏ, ánh đèn dầu leo lét, hai tên gác đang co ro trong mưa, khẩu CKC gác ngang đầu gối. Tôi ra dấu cho Hoàng..
– tay dao găm nhanh nhất tổ – bò vòng phải, còn tôi và Tín men trái. Khi đồng hồ đeo tay của tôi chạm đúng 21:15, tôi huýt nhẹ một tiếng sáo rừng. Tất cả đồng loạt xông lên. Hai tên lính Pôn Pốt chỉ kịp ú ớ. Dao găm của Hoàng đã kề cổ tên thứ nhất, còn tôi quật ngã tên còn lại bằng chuôi súng. Không một tiếng súng, không một tiếng la. Đội tôi nhanh chóng kéo xác chúng giấu vào hốc cây, tắt đèn, rút lui về điểm hẹn. Khi tôi đến vị trí tập kết, mũi của anh Thống và Lâm cũng đã sẵn sàng. Cả ba tổ nằm phục chờ hiệu lệnh. 22:30 – thời khắc của trận đánh. Anh Thống giơ tay ra dấu, chúng tôi tỏa ra như những bóng ma giữa rừng. Gió lạnh mang theo hơi mưa và cảm giác nghẹt thở. Tôi lần về phía kho đạn, nơi ba tên gác đang chia nhau hút thuốc dưới mái hiên. Tay tôi siết chặt chuôi dao. Một, hai, ba – tôi và đồng đội bật tới, hạ gọn từng tên. Tiếng đập của dao vào xương, tiếng rên khẽ vang lên rồi tắt ngấm. Mùi máu tanh quyện vào mùi mưa khiến tôi rợn người, nhưng mắt vẫn ráo hoảnh. Tôi ra hiệu sạch, anh em kéo vào các dây mìn quanh kho. Cùng lúc đó, từ phía hầm chỉ huy, tôi nghe tiếng súng nổ – không phải súng ta mà là tiếng CKC rồi AK bắn trả. Tôi vội bám theo bờ đất chạy đến. Dưới ánh chớp lóe lên, tôi thấy Thái đang vật lộn với một tên to lớn, còn anh Thống thì đã kéo được tên chỉ huy ra khỏi hầm. Tên này bị trói hai tay, miệng bịt rẻ, mắt mở trừng trừng hoảng loạn. Anh Thống hét lên: “Bắt sống rồi!” Nhưng cũng đúng lúc đó, tiếng còi báo động vang lên từ phía nam. Bọn lính trốn chạy trong rừng đã phát hiện. Tôi chĩa súng bắn một loạt AK về hướng tiến động, một tên địch gục xuống nhưng đạn cũng bắt đầu bắn trả từ trong rừng.
“Rút!” Anh Thống quát. “Chúng ta đã đạt mục tiêu. Rút theo hướng đông.” Tôi cõng Thái bị thương nhẹ ở bả vai chạy theo đội hình. Phía sau lưng, kho đạn mà chúng tôi gài chất nổ bắt đầu phát nổ. Ánh lửa bừng sáng cả một góc rừng, lũ địch hoảng loạn bắn loạn xạ nhưng không dám đuổi. Khi trời gần sáng, chúng tôi đã cắt xa hiện trường gần ba cây số. Toàn đội đủ người, không ai tử trận, chỉ hai người bị thương nhẹ. Tên chỉ huy bị trói chặt, mặt tái mét, run bần bật. Dưới ánh nắng mờ sớm, anh Thống nhìn hắn, gằn giọng: “Mày sẽ phải nói ra tất cả.” Và đúng như vậy. Vài ngày sau, lời khai của hắn khiến tất cả chúng tôi không ai còn muốn ăn cơm. Sarun kể về vụ thanh trừng làng Cam Phong Tết, về những đứa trẻ bị dùng để tập bắn cho lính mới. Tôi bước ra khỏi lán, tay nắm chặt thành ghế, móng tay cắm vào da thịt. Tôi đã từng thấy cảnh tàn xác, nhưng chưa bao giờ nghe được một lời khai nào khốn nạn đến mức này, từ chính miệng kẻ thủ ác.
Sáng hôm sau, Sarun khai thêm về trại giam bí mật trong rừng. Hắn nói: “Một trại giam trong rừng hướng đông bắc, tao từng ra lệnh giam giữ dân ở đó. Cả phụ nữ, trẻ con, người già, khoảng hơn 100 người.” Thông tin được lập tức báo về cấp trên. Chỉ trong vòng 3 giờ, chúng tôi nhận lệnh xuất kích. Tổ đặc công 12 người của tôi được giao nhiệm vụ xâm nhập trước. Anh Thống tập hợp toàn đội bên gốc cây me cổ thụ: “Trại giam nằm ở vùng rừng sâu cách đây hơn 15 cây số. Tụi nó có bãi mìn bảo vệ, ước tính từ 15 đến 20 tên canh giữ. Phải giải cứu dân ngay trong đêm nay.” Không ai nói gì, từng người chỉ im lặng quay về thu xếp đồ, kiểm đạn, kiểm súng. Không khí nặng trĩu. Chúng tôi rời hậu cứ vào đầu giờ chiều. Gần 16:30, chúng tôi phát hiện dấu hiệu đầu tiên – một vệt cỏ bị giẫm nát, có phân tươi. Tiến thêm vài trăm mét, chúng tôi dừng lại sau một mô đất. Phía trước là một khoảng đất trống hình bầu dục, cây cối bị phát trụi, có dấu vết lán tre và hầm đất lồi lõm. Đằng xa, thấp thoáng vài bóng người đang kéo nước từ một giếng cạn – là dân thường.
Đúng 22:30, khi cả trại giam đã chìm vào im lặng, chúng tôi tỏa ra theo đội hình ba mũi. Tôi dẫn đầu mũi chính. Gió rừng nổi lên, lá cây xào xạc như tiếng người thì thầm. Tôi bò từng mét, mồ hôi túa ra như tắm dù trời mát. Mỗi lần dò mìn, tim tôi như ngừng đập. Nhưng rồi đúng 22:32, chúng tôi trạm vào dãy lán giam. Một tên lính Pôn Pốt đang đứng quay lưng, súng vác chéo, đầu gật gù buồn ngủ. Tôi không chần chừ, dao găm vút lên lặng như một tiếng thở, tên lính đổ xuống không kịp kêu. Tín, người đi sau tôi, nhanh chóng mở dây thừng cột cửa. Một khe hở đủ để tôi nhìn thấy cảnh tượng bên trong – dưới ánh sáng vàng lờ mờ, hơn 20 người phần lớn là phụ nữ và trẻ em đang nằm rạp trên sàn đất, thân hình gầy gục, nhiều người không còn cả quần áo lành lặn. Một đứa trẻ đang co rúm lại vì sốt. Một bà già nhìn thấy tôi, không dám nói gì, chỉ đưa hai tay run rẩy. Tôi nghẹn lại: “Bộ đội Việt Nam đây, im lặng đi theo tôi. Sắp giải thoát rồi.” Cả gian phòng như chết lặng rồi bật lên tiếng khóc nức nở không thành tiếng. Tôi khua tay dẫn từng nhóm người ra khỏi lán. Trận đánh trong rừng đêm ấy ngắn ngủi nhưng dữ dội. Chúng tôi giải thoát toàn bộ 118 người. Trên đường rút quân, một cậu bé khoảng 10 tuổi níu lấy tay tôi: “Chú ơi, có phải chú là người Việt Nam?” Tôi gật đầu. Nó ôm chầm lấy chân tôi: “Mẹ con bảo chỉ có bộ đội Việt Nam mới cứu được mình.” Tôi cắn môi, quay mặt đi.
Sau trận giải cứu, tôi phát hiện một người đàn ông bất thường trong đám dân được cứu. Hoàng bám theo, phát hiện hắn giấu ống tre chứa sơ đồ hậu cứ của ta. Chúng tôi bắt giữ hắn trong đêm. Hắn cười nhạt: “Ngày mai pháo sẽ bắn vào trạm các người.” Chúng tôi lập tức rút toàn bộ dân khỏi khu vực. 5 giờ sáng, pháo Pôn Pốt dập nát hậu cứ cũ – nếu chậm, thảm sát đã xảy ra. Sau đó, chúng tôi nhận tin về căn cứ “đồi ba hầm”. Tôi gài thuốc nổ, trận nổ long trời lở đất. Chúng tôi bắt sống trung tá Ros Ninh – chỉ huy vùng biên giới. Hắn kể về “trại tốt lép” – địa ngục thực sự: “Có hôm chúng tôi nhận 300 người. Lệnh là đào hố, bịt mắt, bắn từng tốp. Trẻ em vứt xuống giếng. Có đêm tao nghe tiếng trẻ con khóc trong lòng đất, bị chôn khi còn sống.” Tôi buồn nôn. Nhưng lời khai của hắn là bằng chứng sống. Chiến dịch xóa sổ trại tốt lép bắt đầu. Tôi dẫn mũi đạp tung cửa nhà tù. Chúng tôi giải cứu 47 người sống, phá hủy toàn bộ trại. Khi trời hừng sáng, một bé trai 6 tuổi nằm trong tay tôi, tay ôm cục than. Tôi hỏi: “Cái đó là gì?” Nó đáp: “Tro của mẹ con. Họ bắt đốt, con giấu được một nắm.” Tôi nghẹn lại. Ba ngày sau, tôi nhận lá thư: “Chú bộ đội Việt Nam, con tên Say Dani. Con nhớ vai chú ấm. Con muốn gửi chú một cái vòng cỏ. Mẹ nói vòng cỏ sẽ giữ người mình thương khỏi mất.” Tôi nhận chiếc vòng cỏ, đặt lên cổ tay – như một lời hứa: rằng tôi không chỉ đánh để tiêu diệt quân thù, mà để những đứa trẻ được sống, được cười. Ngày rời mặt trận, anh Thống hỏi: “Mày biết vì sao mình còn sống đến giờ không?” Tôi đáp: “Vì mình chưa xong việc.” Cả đội bước đi, lưng còng súng, nhưng trong mắt có ánh sáng. Bởi vì chúng tôi là lính Việt Nam, chiến đấu không để trả thù, mà để chấm dứt đau thương. Và chiếc vòng cỏ của đứa trẻ sống sót hôm ấy – chính là biểu tượng cho lời hứa bất diệt đó.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!