Xuất Ngũ 10 Năm, Tôi Không Tin Vào Mắt Mình Khi Gặp Lại Đại Đội Trưởng Cũ Trong Hoàn Cảnh Này…….
Đêm tháng chạp năm 1986, tiếng còi tàu hỏa rít lên từng hồi dài. Nằm trên giường gỗ trong căn phòng tập thể chưa đầy 15m², tôi kéo chăn chiên mỏng lên ng/ực. Vợ tôi làm y tá trực đêm, căn phòng chỉ có mình tôi. Mùi dầu mỡ máy móc ám vào bộ quần áo bảo hộ vắt trên ghế. Tôi là đội trưởng đội xe vận tải lương thực, quản lý 15 đầu xe chở gạo, bột mì từ ga tàu về các tổng kho. Nhờ lái xe, gia đình tôi no đủ hơn mặt bằng chung.
Nghe tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray, ký ức 10 năm trước lại dội về. Cuối năm 1975, tôi nhận quyết định phục viên, rời quân ngũ chuyển sang giao thông vận tải dân sự. Ngày bàn giao kh/ẩu s/úng AK, tôi không nghĩ mình sẽ cầm vô lăng xe tải chở gạo. Những năm tháng chiến trường, tôi lái xe kéo pháo, sau chở bộ binh. Người chỉ huy tôi là đại đội trưởng Đông, người gầy nhưng xương xẩu, đi đứng luôn thẳng tắp. Tay trái anh mất một đốt ngón trỏ do đạn sượt, vết sẹo dài từ đuôi mắt xuống cằm.
Kỷ luật Đông rất thép. Một lần xe tôi bị lún dưới ngầm, pháo địch cày sới hai bờ. Đông lao xuống bùn, dùng vai gầy cùng anh em kích lốp xe lên. Bùn đất chát kín mặt, anh quát đạp thốc ga. Xe nhào lên đúng lúc đạn pháo rơi xuống vị trí chúng tôi vừa đứng. Mặt Đông rớm máu vì mảnh pháo vạt qua. Anh không về tuyến sau, yêu cầu quân y băng bó tại chỗ tiếp tục bám trụ. Lính đại đội nể sợ sự nghiêm khắc của anh, nhưng ai cũng biết chỉ cần làm đúng lệnh, anh không bỏ ai lại phía sau.
Trở về đời thường, tôi kết hôn, sinh con, bận rộn với những chuyến hàng dọc các tỉnh phía Bắc. Hình ảnh Đông vẫn luôn hiện diện. Tôi nhiều lần dò hỏi qua hội cựu chiến binh, gửi thư về đơn vị cũ nhưng đều bặt vô âm tín. Hồ sơ Đông bị xóa sạch.
Năm 1976, Thắng – đồng đội cũ – đạp xe vào bãi, kéo tôi ra góc vòi nước thông báo: Đông bị tòa án binh kỷ luật nặng vì phá hoại tài sản quân đội, trộm vật tư y tế. Kho quân y bị cưa khóa, thuốc kháng sinh đặc trị biến mất. Đông bị tước quân hàm, khai trừ khỏi Đảng, buộc phục viên. Tôi không thể chấp nhận. Người chỉ huy từng nhường lương khô cho lính, lao xuống bùn kích xe dưới đạn pháo, không thể là kẻ trộm cắp.
Tôi xin nghỉ phép về hậu cứ sư đoàn cũ. Cán bộ ban quân lực xác nhận bản án đã thi hành, Đông đã rời đơn vị. Không ai biết anh đi đâu. Đông mồ côi, không gia đình, chưa vợ, bị tước quân hàm đồng nghĩa mất đi mái nhà duy nhất, mất luôn cơ hội có sổ hộ khẩu.
Suốt 10 năm, mỗi khi chạy xe qua các tỉnh, tôi tạt vào bến xe, ga tàu, bến phà dò la tin tức. Tôi mô tả dáng người gầy, vết sẹo, ngón tay cụt. Đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. Một người mang án không giấy tờ ở thời điểm đó chỉ có thể sống chui lủi ngoài rìa xã hội.
Chiều mùa đông 1986, tôi lùi xe IFA vào ô bốc xếp tại ga Hỏa Xa. Quanh bãi, hàng trăm phu bốc vác làm việc. Tôi chú ý một người đàn ông gầy, da xạm đen vì bụi than. Anh mặc áo lính Tô Châu cũ bạc phách, rách bươm, đầu đội mũ cối cúp sâu, quấn khăn dù. Người phu vác bao than nặng trên lưng, bước đi trên ván hẹp. Dù bao than ép cơ thể đổ gập, dáng đi vẫn giữ một trục thẳng đứng, gót chân dập xuống dứt khoát – tác phong người từng trải qua quân ngũ.
Gió bấc thốc tới, người phu trượt chân, khăn dù tuột, mũ cối bị hất. Bàn tay trái thiếu một đốt ngón trỏ. Gương mặt lấm lem bụi than hiện ra với vết sẹo dài từ đuôi mắt xuống cằm. Tôi sững người – đó chính là Đông. Người phu tên Bảy Đen nhanh chóng gồng mình bước tiếp. Tôi bước vội qua đường ray, cản trước mặt, gằn giọng: “Thủ trưởng Đông đúng không?” Người đối diện định lách qua, tôi nắm cổ tay anh. Giọng khản đục: “Đồng chí nhận nhầm người.” Tôi đáp: “Nhầm thế nào được? Năm 75 ngầm suối cạn xe lún, thủ trưởng lao xuống kích lốp cùng tôi. Vết sẹo pháo vạt trúng. Tay trái thủ trưởng mất ngón trỏ. Tôi là lính bưu tá của đại đội đây.”…………………..
Người phu đứng im, lưng bỗng vươn thẳng theo phản xạ. Tư thế đứng nghiêm của người chỉ huy dẫu rách vải vẫn không lẫn. Lát sau, vai anh trùng xuống, kéo tuột khăn rù. Vết sẹo dài lộ ra. Đông nhìn tôi, hất hàm về phía vòi nước góc bãi. Tại đó, anh vốc nước rửa mặt, lộ làn da xạm đen nhăn nheo. Anh kéo ba lô con cóc xanh bạc phếch, mở nắp lấy giá nhôm méo đựng cơm bo đỏ trộn sắn khô với muối vừng. Tôi hỏi: “Thủ trưởng, ăn thế này sao?” Đông múc một thìa: “Chú đừng gọi thủ trưởng, tôi là Bảy Đen phu vác than.”
Đông kể: bị tước quân hàm, không giấy tờ, chính quyền không cấp hộ khẩu, không tiêu chuẩn lương thực. Anh giạt ra làm lao động tự do, đêm ngủ gầm cầu thang ga. 10 năm, danh tính đại đội trưởng bị xóa sổ, mọi người chỉ biết gã phu Bảy Đen. Nghe anh kể, mắt tôi dán vào đôi dép cao su đứt quai, bàn tay đầy gân xanh, khớp ngón chai sần như sừng. Người chỉ huy từng cầm bản đồ vạch hướng tiến công giờ sống chui lủi. Tôi nuốt câu hỏi vào bụng.
Đông ăn vội mấy miếng sắn cuối. Tôi bảo anh đợi, quay về xe lấy bọc vải dù chứa năm chỉ vàng tích cóp. Nhân lúc Đông quay lưng, tôi nhét vàng xuống đáy ba lô. Đông xách ba lô, bóng khuất sau đống than, dáng đi thẳng trục lưng không đổi.
11 giờ đêm tại khu tập thể, bác bảo vệ gọi tôi xuống. Có người rách rưới, toàn bụi than, đứng ngoài bờ rào từ chập tối, nấp suốt mấy tiếng, đợi khuya mới dám gọi. Tôi nhận ra – Đông đã phát hiện vàng, đi bộ tìm tôi, cố tránh làm mất mặt đồng đội.
Dưới gốc bàng, Đông ôm ba lô, đưa tay trái cụt ngón chìa bọc vải xanh: “Cậu để quên đồ, cầm lấy.” Tôi cố biếu anh làm vốn. Đông gạt tay: “Quân nhân cấm lấy cái kim của nhân dân. Cậu mang về lo vật tư cho xí nghiệp.”
Đúng lúc, xe UAZ 469 biển đỏ lao tới. Ba người xuống: công an, sĩ quan phụ tá, và Thượng tá Phong – chính ủy sư đoàn cũ. Tôi định chắn trước cho Đông. Anh gạt tôi, dập gót đứng nghiêm, khai rành mạch tên, thân phận. Thượng tá Phong bước tới, giang tay định ôm. Đông lùi, giơ tay chào: “Báo cáo thủ trưởng, tôi mang án kỷ luật, đề nghị giữ khoảng cách.”
Thượng tá Phong thông báo: Ban Chỉ huy sư đoàn đã lật lại hồ sơ vụ án, phát hiện suốt 10 năm, mỗi tháng đều có tiền bọc giấy báo gửi về nhà lính liên lạc tên Trung, chữ viết trùng khớp với Đông. Sự thật: Trung là chiến sĩ liên lạc đã hy sinh che chở Đông, để lại con gái chưa đầy một tuổi. Năm 1976, Đông tìm gia đình Trung. Đứa bé viêm phổi nguy kịch, bệnh viện hết thuốc kháng sinh, chuyển tuyến phải có giấy liệt sĩ mà Trung bị ghi mất tích. Không cứu con gái ân nhân bằng đường hợp pháp, Đông cưa khóa kho quân y lấy thuốc đặc trị cứu sống đứa trẻ. Anh tự thú, nhận án không kêu oan.
10 năm, Đông làm phu bốc vác, chắt bóp gửi tiền nuôi gia đình liệt sĩ. Đầu năm 1986, hầm chỉ huy bị sập được khai quật, tìm hồ sơ công nhận Trung là liệt sĩ. Bộ Tư lệnh ra quyết định ân xá, hủy bản án kỷ luật, khôi phục quân hàm cho Đông. Thượng tá Phong tự tay khoác bộ quân phục sĩ quan mới lên vai Đông, gài từng cúc. Bộ quân phục rộng trên thân hình gầy mòn 10 năm. Đông đưa tay chạm vải dạ, mắt chớp. Thượng tá Phong lùi lại, dập gót chào. Cả ba người đồng loạt giơ tay chào.
Đông hạ tay, quay sang tôi, đưa bọc vàng: “Cậu cầm lại. 10 năm mang án, tôi chưa từng xin ai một đồng. Tôi là kẻ mang án nhưng chưa mất nhân cách bộ đội Cụ Hồ. Cậu mang về lo vật tư cho xí nghiệp. Kỷ luật quân đội cấm tơ hào của công, càng cấm lợi dụng tình đồng đội tư lợi.”
Đông ấn vàng vào túi áo tôi, cài nắp lại. Danh dự người lính không đo bằng chỉ vàng, nó được rèn từ lòng tự trọng tuyệt đối, dẫu khoác vải rách. Xe UAZ chờ đưa Đông về trạm an dưỡng. Anh quay mặt, đôi mắt xạm đen nhìn tôi. Tôi dập dép, vươn lưng, giơ tay chào. Đông đưa bàn tay cụt ngón lên vành mũ cối đáp trả. Thượng tá Phong và mọi người đồng loạt chào người đại đội trưởng.
Tiếng còi tàu rít lên, vang như hồi kèn báo sự trở về. Đông bước dài về phía xe, dáng đi thẳng trục hoàn toàn ăn khớp với bộ quân phục sĩ quan. Cửa xe đóng, động cơ gầm, UAZ lăn bánh vào màn đêm. Tôi đứng dưới gốc bàng, tay chạm bọc vàng trong túi. 10 năm hàm oan, 10 năm tự lưu đầy của người chỉ huy thép đã khép lại, để lại bài học về lòng tự trọng và nhân cách kiên trung của người lính thời bình.





