Ba rưỡi mình trên giường bệnh, mắt hé mở, ra hiệu tôi lại gần. Hơi thở yếu ớt nhưng gấp gáp. “Nam, con lại gần đây. Ba có chuyện muốn nói.”
Má tôi định bước tới, ba liếc bà rồi nhìn tôi. Tôi hiểu. Tôi xin má ra ngoài. Khi cánh cửa khép lại, ba chỉ vào tủ đầu giường. “Trong tủ có một cái hộp sắt. Lấy ra đây cho ba.”
Tôi mở ngăn tủ, lôi ra chiếc hộp cũ đã han rỉ. Ba run run vuốt nắp. “Chuyện này ba đã giấu kín mấy chục năm. Ba sợ không còn nhiều thời gian. Con phải hứa với ba, sau khi ba đi rồi, con sẽ thay ba làm một việc.”
Tôi nắm tay ông. “Ba cứ dặn, con xin hứa.”
Ba hít một hơi sâu. “Trước khi vào Nam, trước khi gặp má con, ba đã có một đời vợ ngoài Bắc. Ba và người ấy có với nhau một đứa con gái. Con bé tên Lan. Con còn có một người chị gái, Nam à.”
Từng lời như sét đánh ngang tai. Tôi sững người. Ba khóc. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy ba khóc.
“Chiến tranh loạn lạc đã chia cắt. Bao năm rồi bặt tin. Mấy chục năm qua ba luôn sống trong day dứt. Ba không dám nói vì sợ làm khổ má con, sợ gia đình tan nát.”
Ông ho lên một tràng dài. Tôi vuốt ngực cho ông, lòng đau như cắt. Trong chiếc hộp sắt kia còn cất giấu những bí mật gì?
Tang lễ ba trang trọng. Má suy sụp. Tôi kể hết cho má nghe. Bà chỉ im lặng rất lâu rồi thở dài. “Thảo nào mấy chục năm nay có những đêm ông ấy ngồi một mình ngoài hiên thở dài. Hóa ra trong lòng ông ấy còn gánh nặng lớn đến vậy.”
Tôi mở hộp sắt. Mùi ẩm mốc của giấy tờ cũ xộc lên. Sấp ảnh đen trắng ố vàng. Người phụ nữ trẻ khuôn mặt trái xoan, mắt to đen láy, tóc tết gọn – mẹ ruột tôi. Bên cạnh ba thời trai trẻ, ánh mắt hạnh phúc. Tấm ảnh thứ hai: ba bế một bé gái bụ bẫm, má phúng phính, mắt đen láy giống mẹ. Chị Lan.
Dưới ảnh là tập thư chưa gửi. Bức đầu đề 1975: “Em và con yêu quý. Anh đã vào đến Sài Gòn bình an…” Càng đọc lòng tôi càng thắt. Ba viết về nỗi nhớ, về ngày gặp má tôi, về tội lỗi. “Anh đã phụ lòng em. Mỗi khi bế thằng Nam, anh lại nhớ đến con Lan. Anh là một thằng tồi…”
Ở đáy hộp một mẫu giấy nhỏ: nhà ông giáo Hải, ngõ Vườn Xoài, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Tôi mua vé tàu thống nhất. Má gật đầu. “Con đi đi. Đó là việc phải làm. Thay má thắp cho bà ấy một nén nhang. Còn chị con, nếu gặp được hãy đối xử tốt.”
Tàu chạy hai ngày. Tôi mang theo hộp sắt và hũ tro cốt ba. Đến Phủ Lý, thuê xe ôm vào ngõ 128 Trần Hưng Đạo – ngõ Vườn Xoài ngày xưa. Bà cụ bán nước chè lắc đầu. “Ông giáo Hải lâu lắm rồi không nghe ai nhắc.” Bà chỉ tôi đến nhà bà Ba ở cuối ngõ.
Bà Ba nhìn tấm ảnh ba và mẹ tôi, kêu thất thanh. “Trời ơi, cậu Hải đúng rồi. Còn đây là cái Hà.” Rồi bà chỉ khu đất hoang đối diện. “Nhà ông giáo Hải ngày xưa ở kia, nhưng bỏ hoang mấy chục năm, giờ chỉ còn nền.”
Tôi nhìn mảnh đất cỏ dại mọc cao, cây khế già khẳng khiu. Hy vọng vừa nhen nhóm vụt tắt.
Bà Ba kể: mẹ tôi chờ chồng cả đời. Ngày nào cũng bế con ra đầu ngõ ngóng. Làm đủ nghề để nuôi con. Nhà bị bom sập một góc, dựng lều tạm. Cách đây hơn mười năm mẹ yếu dần vì bệnh tim, mất trong một đêm mùa đông giá rét. Mộ ở nghĩa trang xã.
Còn chị Lan? Bà thở dài. “Số nó còn khổ hơn cả mẹ.” Năm lên năm, chị sốt cao co giật, để lại di chứng. Trí tuệ dừng lại ở tuổi năm. Mẹ nhất quyết không gửi trại. Trước khi mất, mẹ gả chị cho một người đàn ông tên Trung, gốc Nghệ An, mồ côi, hiền lành. Trung đưa chị về Nghi Lộc. Hơn hai mươi năm không tin tức.
Tôi lên tàu đêm đi Vinh ngay.
Sáng sớm đến ga Vinh, xe buýt về Nghi Lộc. Ở ủy ban xã, anh cán bộ tìm được: Nguyễn Văn Trung sinh 1965, vợ Phan Thị Lan sinh 1970, xóm Bầu Sen. Anh nói giọng ái ngại: “Hoàn cảnh đặc biệt lắm. Anh Trung một mình gánh vác cả gia đình.”
Xe ôm đưa tôi vào con đường đất đỏ. Bác tài thở dài. “Anh Trung là người hiền lành nhất xóm, nhưng số hẩm hiu. Người ta gọi đùa ảnh là gà trống nuôi con.”
Tôi đứng trước cánh cổng tre siêu vẹo. Ngôi nhà ba gian tường đất bong chóc, mái ngói xô lệch phủ rêu. Tôi gọi. Cánh cửa mở. Người phụ nữ bước ra. Quần áo bà ba nâu sờn, tóc bạc búi gọn, dáng gầy. Khi bà ngẩng lên, thế giới tôi sụp đổ.
Đôi mắt to tròn, trong veo nhưng ngơ ngác vô hồn như đứa trẻ. Chị nhìn tôi không cảm xúc.
Đây là chị Lan sao? Cô bé bụ bẫm trong ảnh đâu rồi?
Tôi đứng chết lặng. Nước mắt trào ra………….
……………………………………………
Tiếng đàn ông từ sau nhà: “Lan, ai đó em?” Anh Trung bước ra, da xạm, áo may ô ngả màu, vác cuốc. Anh nhìn tôi cảnh giác. “Ông tìm ai?”
Tôi run. “Tôi tên Nam, từ Sài Gòn ra. Tôi là em trai chị Lan.”
Anh sững. Tôi đưa tấm ảnh ba. Anh run cầm lấy. “Đây đúng là ba vợ tôi rồi. Mẹ vợ tôi trước khi mất có cho tôi xem một tấm y như thế này.”
Anh quay sang chị. “Lan ơi, em trai của em về thăm em này.” Chị vẫn ngơ ngác.
Anh mời tôi vào. Nhà trống hoác, bàn thờ nhỏ, giường tre cũ, nền đất nện sạch sẽ. Anh bưng nước trà. “Nhà không có gì đãi cậu.”
Anh kể: lời hứa với mẹ vợ trước khi mất. “Tôi coi Lan như máu thịt. Không thương nó thì còn ai.” Hơn hai mươi năm, anh dậy sớm nấu cháo đút cho chị, tắm rửa, thay quần áo, rồi mới đi làm thuê. Trưa chạy về lo cơm. “Nó như đứa trẻ con. Cứ quanh quẩn như thế suốt hơn hai mươi năm.”
Tôi ngồi nghe, lòng quặn thắt. Người đàn ông này đã thay cha mẹ tôi gánh trách nhiệm quá lớn.
Tôi lấy tấm ảnh ba ra, ngồi xổm trước chị. “Chị Lan ơi, chị nhìn em này. Chị xem, chị có nhận ra ai đây không?”
Anh Trung ngồi bên, nhẹ nhàng: “Lan à, em nhìn cho kỹ.”
Chị nhìn ảnh lâu. Đôi mắt trống rỗng chợt lóe một tia sáng. Đôi môi mấp máy. Ngón tay gầy run chỉ vào ảnh. Rồi một âm thanh khó nhọc nhưng rõ ràng:
“Bố…”
Tôi gục đầu ôm mặt khóc nức. Chị nhận ra. Chị vẫn còn nhớ ba.
Anh Trung ôm vợ, mắt đỏ hoe. Tôi ngẩng lên. Chị lại lẩm bẩm: “Bố.”
Tôi xin ở lại vài ngày. Anh gật. Tối đó bữa cơm rau luộc, cà pháo, cá kho mặn chát nhưng ấm nhất đời tôi. Anh gắp thức ăn lia lịa vào bát tôi. Chị thỉnh thoảng ngước nhìn tôi bằng đôi mắt trong veo.
Những ngày sau tôi chứng kiến sự hy sinh của anh. Trời chưa sáng anh đã dậy nhóm bếp, đút cháo, tắm rửa cho chị, rồi mới ra đồng. Tôi xắn tay phụ. “Em là em vợ anh. Để em san sẻ.”
Tôi lấy bọc tiền tiết kiệm. “Số này là của ba em. Món nợ ba nợ mẹ, nợ chị, nợ cả anh. Anh nhận vì chị Lan.”
Anh lắc đầu. Tôi nắm tay anh. “Xin anh đừng từ chối. Đừng để ba dưới suối vàng day dứt thêm.”
Anh khóc. Gật đầu.
Sáng hôm sau tôi thưa: “Em mang theo hũ tro cốt ba. Em muốn để ba yên nghỉ ở đây, gần chị.”
Anh đề nghị đưa về cạnh mộ mẹ. Tôi lắc. “Mẹ đã chờ ba cả đời. Em muốn ba ở gần con gái.” Tôi chỉ gốc khế già trước sân. “Mỗi ngày chị ra sân, ba đều nhìn thấy chị.”
Hai anh em đào huyệt dưới gốc khế. Tôi đặt hũ tro xuống. Chị ôm ảnh ba đứng nép sau lưng anh. Khi ngôi mộ vun tròn, nắng chiều xuyên kẽ lá. Chị vẫn ôm ảnh, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ.
Tôi tin linh hồn ba và trái tim chị đã kết nối.
Tháng sau tôi trở lại. Ngôi nhà đã được xây lại khang trang hơn bằng số tiền tôi gửi và sự giúp đỡ hàng xóm. Chị hồng hào hơn. Lần này vừa đến đầu ngõ tôi gọi: “Chị Lan ơi, em về thăm chị này.”
Chị quay lại. Đôi mắt sáng lên. Nụ cười ngây thơ nở. Rồi chị gọi rõ ràng:
“Em…”
Tôi chạy tới ôm chị. Vòng tay gầy yếu nhưng ấm nhất đời.
Từ đó mỗi lần về, chị nhận ra tôi. Quấn quýt bên tôi, khoe hoa dại, chỉ chiếc radio anh mới mua. Dù tâm trí vẫn như đứa trẻ, tình cảm chị dành cho tôi là thật.
Tôi ngồi dưới gốc khế, thắp nhang cho ba. Không còn day dứt. Tôi tin ba và mẹ đang mỉm cười vì con cái họ đã tìm thấy nhau.
Hành trình tìm cội nguồn khép lại. Nhưng hành trình của tình thân chỉ vừa bắt đầu. Ngoài sân, gió chiều thổi nhẹ qua tán khế. Chị ngồi bên anh, tay vẫn cầm tấm ảnh cũ. Tôi đứng nhìn, lòng thanh thản và trống trải cùng lúc. Có những khoảng trống không gì lấp đầy được, chỉ còn cách ngồi cạnh chúng, để chúng ở đó, lặng lẽ, như ngôi mộ nhỏ dưới gốc cây già.





