Ly hôn bảy năm, ngày đám tang cha chồng tôi dắt cặp song sinh đội khăn tang về, cả nhà chết sững khi nghe hai tiếng “ông nội”.
.
Tôi đứng ngoài cổng nhà cũ, hai tay dắt Nhật Minh và Ngọc Diệp. Trên đầu hai đứa vẫn còn khăn tang trắng. Gió từ con rạch thổi vào mang mùi nhang khói và tiếng kèn đám tang. Bảy năm rồi tôi mới bước lại con đường này.
Bà Cúc nhìn thấy trước. Bà đứng bật dậy, ánh mắt dừng ở hai chiếc khăn tang rồi sắc mặt đổi trắng. Bà bước nhanh ra cổng:
“Ai báo cô về đây?”
Tôi cúi đầu:
“Con nghe tin ba mất. Con đưa hai đứa nhỏ về lại ba.”
Bà nhấn mạnh:
“Ai cho tụi nhỏ đội cái này?”
Mấy người đang rót trà chậm tay. Tôi kéo hai con sát vào mình:
“Má đừng làm tụi nhỏ sợ. Để con vào thắp nhang trước đã.”
Bà cười nhạt nhưng hai bàn tay run:
“Cô biến mất bảy năm. Hôm nay chồng tôi vừa nằm xuống thì cô dắt hai đứa về đội khăn tang đàng hoàng. Cô tính nhận bà con kiểu gì?”
Phúc đã bước tới. Anh nhìn tôi rồi nhìn hai đứa trẻ. Bà Cúc chỉ vào hai chiếc khăn:
“Nhà này chưa biết tụi nó là con cháu ai, không được tùy tiện chịu tang.”
Khuôn mặt tôi tái đi. Ông Sáu Tấn từ gian giữa bước thẳng ra:
“Không ai tháo hết. Khăn tang đó tôi cột cho hai đứa. Dựa vô lời anh Bảy.”
Cả rạp im bặt. Đúng lúc ấy Nhật Minh nhìn thấy di ảnh trong nhà. Nó buông tay tôi, mắt đỏ lên:
“Má, con muốn vô lạy ông. Ông nội dặn nếu ông có mất tụi con phải về lạy ông.”
Hai tiếng “ông nội” rơi xuống giữa khoảng sân như một vật nặng. Phúc đứng chết sững. Anh nhìn thật kỹ khuôn mặt cậu bé – cái trán rộng, đôi mắt hơi sâu, sống mũi, cách cắn môi cố nén khóc. Một ký ức quật thẳng vào anh. Trong tủ gỗ của ba vẫn còn tấm ảnh anh chụp năm bảy tuổi. Gương mặt ấy gần như đang đứng trước mặt.
Phúc quay sang tôi, giọng run:
“Hai đứa nhỏ rốt cuộc là con của ai?”
Tôi không trả lời ngay. Bên trong căn nhà đầy khói nhang, bà Cúc đã trắng bệch mặt từ lúc nào.
Mười năm trước, căn nhà ông Bảy Lâm chỉ là nhà cấp bốn mái tôn nép bên con rạch. Phúc ba mươi mốt tuổi, mới cưới tôi vài tháng. Tôi hai mươi lăm. Bà Cúc từng nói: “Nhà người ta gả con ít ra cũng có chút vốn liếng, con Thương coi bộ chỉ được cái hiền.” Ông Bảy gạt: “Hiền mà biết làm ăn còn quý hơn.”
Những ngày đầu làm dâu tôi không đôi co. Sáng nấu cơm, ra bãi phụ ghi sổ. Tối chờ Phúc chạy xe về mới hâm cơm. Có hôm gần một giờ sáng xe mới vào sân. Anh cười: “Em cứ ngủ trước đi.” Tôi đáp: “Anh chạy xe ngoài đường đã thức rồi. Ở nhà thêm một người thức chờ cũng đâu làm hao xăng.”
Một buổi sáng tháng sáu, xe vừa chất hàng thì máy hỏng. Tiền trong nhà đã dồn gần hết. Tối hôm ấy tôi mở tủ gỗ, lấy hộp nữ trang cưới xuống. Tôi đặt một cây vàng lên bàn rồi lấy thêm bốn triệu đồng dành dụm:
“Mai mình đem bán. Nếu mất mối này vàng vẫn nằm trong hộp. Nhưng sửa được xe, giao được hàng thì mới có đường làm ăn.”
Sáng hôm sau vàng được bán. Xe sửa kịp. Từ đó tôi mua một cuốn sổ dày ghi mọi khoản thu chi. Ông Bảy từng nói với Phúc: “Lúc nhà mình chưa có gì, người chịu lấy vàng cưới ra cứu chuyến xe cho con là vợ con. Người ta thường không quên lúc nghèo. Người ta hay quên sau khi khá lên.”
Nhà dần khá hơn. Tôi vẫn giữ sổ. Cho đến khi chuyện chưa có con bị đem ra nói nhiều hơn. Bà Cúc nói thẳng: “Đàn bà về nhà chồng tính bạc giỏi mấy cũng phải có con mới trọn.” Rồi bà bắt đầu nhắc tới Đặng Kim Oanh.
Tháng bảy năm 2008 bà Cúc lên cơn thất thanh: “Vàng của tôi đâu rồi?” Ba cây vàng. Bà quay sang tôi: “Hôm qua cô có vô phòng tôi không?” Tôi đáp có, vì má biểu lấy sổ. Bà nói: “Hôm qua cô vô, hôm nay vàng mất. Nhà ngoại cô dạo này đang sửa mái chắc cũng tốn kém.”
Tôi đứng chết lặng. Đến chiều cán bộ xã được mời tới. Khi người ở xã vừa rời, bà quay sang nhìn chiếc túi vải tôi để trên ghế: “Vậy cô mở túi ra đi.” Phúc bước tới, giọng thấp: “Hay em mở cho má coi một lần đi cho yên chuyện.” Tôi quay sang chồng. Anh tránh ánh mắt tôi. Ông Bảy đứng chắn: “Nó giữ tiền hàng nhà này mấy năm không thiếu một đồng. Bà chưa có bằng chứng mà đòi lục túi nó, tôi không cho.”
Đến tối tôi hỏi Phúc: “Lúc vợ anh bị người ta ám chỉ là ăn cắp ngay trong căn nhà này, anh đứng bên nào?” Anh há miệng rồi lại thôi. Ngoài hiên ông Bảy đã nghe hết. Còn ở cách đó vài cây số, trong tủ nhà dì Tư Hòa, ba cây vàng vẫn nằm nguyên.
Sau vụ đó tôi vẫn làm việc như cũ, nhưng không còn đợi Phúc về khuya để kể chuyện nữa. Một tối anh đưa túi bánh. Tôi nói: “Em không cần bánh. Em cần lúc người ta chỉ mặt em là ăn cắp, chồng em nói một câu rằng vợ tôi không phải người như vậy.”
Bà Cúc càng lạnh. Một chiều bà bắt gặp tôi đang gom đồ. Bà quay sang Phúc: “Con chọn đi. Còn Thương trong nhà này thì má ra ngoài ở.” Phúc quay sang tôi: “Hay mình xa nhau ít bữa?” Tôi nhìn anh rất lâu: “Ra riêng hay là ly hôn?” Anh cúi mặt: “Anh đâu muốn tới mức đó, nhưng anh cũng không muốn đứng về phía em.” Tôi bật cười rất khẽ: “Người bị ép từ đầu tới giờ là em. Anh khỏi phải chọn nữa. Em muốn ly hôn.”
Ngày hai người chính thức chấm dứt hôn nhân, ông Bảy lặng lẽ đưa tôi ra chỗ đón xe. Ông nghẹn giọng: “Ba nói được nhiều mà giữ con ở lại không được.” Chiếc xe lăn bánh. Phúc đứng dưới mái hiên nhìn theo. Anh không biết rằng hai sinh mạng nhỏ đã bắt đầu hiện hữu trong bụng tôi.
……………………………………………
X/EM TI/ẾP PH/ẦN 2 BÊN DƯỚI
👇👇👇
Cuối tháng mười một năm 2008 tôi đi khám. Bác sĩ nói: “Thai bảy tuần. Có hai túi thai.” Tôi cầm tấm phim mà tay run. Hai ngày sau tôi trở về căn nhà ven sông. Bà Cúc mở cổng. Tôi đưa giấy khám: “Con có thai. Thai đôi khoảng bảy tuần.” Bà nhìn bụng tôi rồi nói lạnh: “Ly hôn hơn tháng rồi giờ mới về báo. Ai biết con của ai.”
Tôi đứng chết lặng. Tôi viết một lá thư tay, kẹp bản sao kết quả và hình siêu âm, gửi bảo đảm. Bà Cúc là người nhận. Bà xé mép thư, nhìn tấm siêu âm, rồi nhét xuống đáy ngăn tủ. Một tuần sau tôi gọi. Bà nói: “Nó biết rồi. Nó nói chuyện đã xong rồi, cô đừng tìm nữa.” Tối hôm đó tôi ngồi một mình, bàn tay đặt lên bụng: “Được rồi, từ nay má nuôi hai đứa.”
Đầu tháng sáu năm 2009 tôi sinh sớm. Một trai một gái. Tôi đặt tên Nguyễn Nhật Minh và Nguyễn Ngọc Diệp. Tôi thuê nhà nhỏ, xin làm sổ sách cho vựa trái cây. Ban ngày tính tiền, chiều đón hai con. Khi chúng bắt đầu hỏi chuyện, tôi chỉ nói: “Ba tụi con ở xa. Chuyện người lớn dài lắm. Hai con không có lỗi gì.”
Từ năm 2009 đến 2015 việc làm ăn của Phúc phát triển mạnh. Anh có nhà rộng hơn, xe đẹp hơn. Nhiều đêm anh vẫn nhớ tôi, nhưng không biết tôi đã tìm anh, cũng không biết hai đứa trẻ mang dòng máu anh đang lớn lên chỉ cách vài chục cây số.
Tháng năm 2015 ông Bảy lên bệnh viện tái khám. Ông nghe tiếng tôi gọi con. Ông quay đầu. Cậu bé quay mặt sang. Ông đứng chết lặng. Cái trán rộng, đôi mắt sâu giống hệt Hoàng Phúc. Tôi đưa ông ra góc vắng, lấy phiếu gửi thư và bản sao siêu âm. Ông cầm lên, đôi tay run. Tôi kể hết. Ông về nhà, lục tủ, tìm ra phong thư đã bị bóc mép.
Khi bà Cúc về ông đặt thư giữa bàn: “Tại sao bà giấu thư này? Đây là cháu nội của tôi. Sáu năm trời.” Ông tìm tới nhà dì Tư Hòa. Dì khóc: “Chị Cúc gửi tui giữ trước hôm nói mất. Tôi biết con Thương bị vu oan mà không dám nói.”
Ông tìm tôi, đặt thư và lời thú nhận của dì Tư lên bàn: “Ba cây vàng năm đó chưa từng mất. Con bị oan.” Tôi ngồi im: “Con biết con không lấy.”
Từ đó ông Bảy sang thăm hai cháu đều đặn. Ngọc Diệp gọi ông là ông nội. Nhật Minh thì thận trọng hơn. Cuối tháng chín tôi đồng ý để ông nói với Phúc, nhưng chưa đưa gặp hai con. Ông chuẩn bị chiếc hộp gỗ chứa thư, phiếu gửi, sổ cũ. Ông dặn ông Sáu: nếu ông có chuyện trước thì phải báo tôi đưa hai đứa về lạy ông, và giao hộp cho Phúc.
Đêm ấy ông Bảy bị tai biến. Hai ngày sau ông mất. Ông Sáu gọi tôi: “Anh Bảy mất rồi con. Ảnh dặn phải báo con, đưa hai đứa nhỏ về lại ông nội.”
Sáng hôm sau tôi đưa hai con đội khăn tang về. Giữa đám tang, sau tiếng gọi “ông nội”, ông Sáu chắn trước bà Cúc: “Anh Bảy dặn tụi nhỏ về. Đây là ý của người chết.”
Nhật Minh và Ngọc Diệp quỳ trước linh cữu. Chiều hôm ấy ông Sáu mở chiếc hộp gỗ. Phúc nhận phong thư năm 2008. Anh đọc, tay run. Anh nhìn mẹ: “Má nhận được lá thư này?” Bà nói nhỏ: “Có.” Ông Sáu đưa thêm lá thư ông Bảy viết. Trong thư ông nói rõ: người ký đơn ly hôn là Phúc, người bảo mở túi cho má coi cũng là Phúc. “Con đừng lấy cái sai của má để làm nhẹ cái sai của mình.”
Dì Tư Hòa bước vào: “Ba cây vàng năm đó không có mất. Chị Cúc đã đem qua nhà tôi gửi giữ.”
Phúc ngồi xuống, hai tay ôm mặt. Không phải vì mẹ nói dối, mà vì cuối cùng anh hiểu: lúc vợ mình bị đẩy ra bằng nỗi oan, anh đã đứng đó và không ngăn lại.
Bà Cúc choáng, khụy xuống. Tôi đỡ bà. Chiều bà được cho về. Khi tôi chuẩn bị đưa hai con về, bà gọi rất nhỏ: “Thương.” Tôi chỉ đáp: “Má nghỉ đi.” Rồi nói với Phúc: “Anh lo cho má. Em đưa tụi nhỏ về.”
Tối đó Phúc tìm tôi: “Anh muốn xác định rõ chuyện của hai đứa nhỏ.” Tôi gật đầu. Kết quả ADN xác nhận anh là cha ruột. Phúc cầm tờ giấy, tay run. Anh bước về phía Nhật Minh. Thằng bé lùi lại, nép sau tôi. Ngọc Diệp hỏi: “Vậy chú là ba thiệt hả?” Phúc cúi xuống: “Ừ. Nếu con chịu nhận. Ba ở không xa lắm. Nhưng ba tới trễ.”
Anh đề nghị đón ba mẹ con về nhà. Tôi lắc đầu: “Anh là cha về huyết thống, em không phủ nhận. Nhưng làm ba không phải cầm tờ ADN rồi bước vô cuộc đời tụi nhỏ như thể chưa có gì xảy ra. Bắt đầu từ đầu. Anh được gặp con nhưng phải báo trước. Không lấy quà đắt tiền mua lòng. Tụi nhỏ muốn gọi anh là gì thì để tụi nó tự quyết.”
Từ đó Phúc làm đúng. Không còn mang quà đắt tiền. Có hôm chỉ ghé hỏi hai đứa học sao. Một đêm Minh sốt cao, tôi đưa vào viện. Chưa đầy hai giờ sau anh xuất hiện, quần áo còn bụi đường. Anh ngồi ngoài hành lang suốt tới sáng. Khi Minh tỉnh, thằng bé chủ động dịch người sang, chừa cho anh một chỗ ngồi cạnh giường.
Những ngày cuối năm bà Cúc mời họ hàng đến. Bà đứng dậy: “Chuyện ba cây vàng năm 2008, con Thương không lấy. Ba cây đó chưa từng mất. Tôi đã gửi bên nhà con Tư Hòa. Tôi có ác cảm với con Thương rồi lấy chuyện vàng ra làm nó mang tiếng. Má sai.”
Tôi chỉ nói: “Con nghe rồi.”
Vài ngày sau bà tìm tới nhà tôi, cầm cuốn sổ cũ ông Bảy từng giữ. Bà nói: “Hồi nhà má nghèo, con thức khuya dậy sớm phụ nhà này. Tới lúc có chút tiền má lại nghĩ con không xứng. Má làm hai đứa nhỏ mất sáu năm có cha.”
Tôi nhìn bà: “Má nhận mình sai là phần của má. Còn con có hết đau chưa là phần của con.”
Cuối tháng ấy gia đình làm bữa cơm nhỏ thắp nhang cho ông Bảy. Bà Cúc đưa cho tôi một nén nhang: “Con thắp cho ba con một cây đi.” Bốn chữ “ba con” khiến tôi cay mắt.
Sau bữa cơm Phúc đi ra mé sông. Tôi bước theo. Anh nói: “Anh không xin em quay lại. Anh cũng không xin em quên. Anh chỉ xin được tiếp tục làm những gì còn sửa được.” Tôi đáp: “Anh sửa cho chính anh trước đi. Đừng sống tử tế chỉ để chờ tôi tha.”
Đúng lúc ấy Nhật Minh từ sân chạy xuống. Thằng bé vấp phải rễ cây. Phúc lao tới đỡ. Trong lúc hoảng hốt nó buột miệng: “Ba…”
Cả ba người đứng sững. Nhật Minh mặt đỏ lên. Phúc không ôm con. Anh chỉ ngồi xuống ngang tầm thằng bé, mắt đỏ hoe: “Ừ. Ba đây.”
Ngọc Diệp chạy tới nắm tay anh trai. Tôi đứng nhìn. Lần đầu tiên tôi không gọi hai con quay lại. Ở trên hiên bà Cúc cũng nhìn thấy. Bà không bước xuống, chỉ ngồi lặng, hai mắt ướt. Gió từ con rạch thổi vào. Có những khoảng cách không thể bước qua chỉ bằng một tờ giấy xét nghiệm. Có những tiếng gọi phải mất rất nhiều năm mới đổi được. Và có những buổi chiều như thế này, khi đứa trẻ buột miệng gọi một tiếng, người lớn chỉ biết ngồi xuống ngang tầm nó mà không dám ôm ngay, vì sợ cái ôm ấy đến quá muộn.





