Việt Kiều Về Việt Nam Làm Giỗ Mẹ, Thấy Ông Lão Rách Rưới Ngồi Trước Cổng – Sự Thật Khiến Cô Khóc Nức Nở
Tôi tên Hương, 52 tuổi, sống ở San Jose. Tôi về Việt Nam làm dỗ đầu cho mẹ sau gần 30 năm xa quê. Trong mắt họ hàng, tôi là bà Việt kiều thành đạt. Không ai biết tôi từng đứng làm móng 10 tiếng mỗi ngày, hai bàn tay nứt nẻ vì hóa chất.
Ngày tôi về, có một ông lão ngồi dưới gốc cây trước cổng nhà. Áo bạc màu, quần vá, dép đứt quai. Ông không xin tiền, chỉ nhìn tôi. Tôi đưa ông tờ tiền, ông không nhận, chỉ hỏi: “Con mới về có mệt không?” Tôi thấy khó chịu vì cách ông gọi tôi là “con”.
Suốt ba ngày, ông lão đều đến ngồi dưới gốc cây. Không xin gì, không gọi cửa. Ngày thứ tư, tôi ra hỏi. Ông nói ông biết mẹ tôi. Khi tôi hỏi có biết cha tôi không, ông run lên: “Cha cô chắc đã đi xa lắm.” Tôi tức giận, nghĩ ông muốn xin tiền. Tôi bảo người cháu đuổi ông đi. Ông nhặt túi vải, lặng lẽ bước đi. Bó hoa huệ trắng ông mang đến được đặt dưới gốc cây.
Đêm ấy mưa lớn. Gần 1 giờ sáng, tôi thấy ông đứng bên kia cổng, ướt sũng, ôm chiếc túi vải trước ngực. Tôi mở cửa: “Ông còn quay lại làm gì?” Ông nhìn tôi rất lâu rồi nói: “Con vẫn hay nhíu mày mỗi khi buồn, giống hệt ngày còn bé.” Toàn thân tôi cứng lại. Ngoài cha mẹ, không ai từng nói với tôi câu ấy.
Tôi bắt đầu tìm hiểu. Tôi tìm gặp bà Sáu Lành, người hàng xóm cũ. Bà kể cha tôi từng quay về tìm mẹ con tôi, nhưng bị cậu Tấn đuổi đi. Bà nói cha tôi gửi thư, gửi tiền về nhưng cậu Tấn nhận hết. Tôi về hỏi cậu. Cậu chối, nói tôi bị người ta lừa.
Tôi tìm thấy trong tủ của mẹ một mảnh phong bì cũ, ghi tên cha tôi ở phần người gửi. Lá thư bên trong đã biến mất. Bà Sáu đưa tôi một tờ biên nhận tiền cũ: cha tôi gửi tiền, người nhận là cậu Tấn. Bên dưới có dòng chữ: “Nhờ em trao tận tay chị, mua thuốc cho chị. Nói với bé Chim rằng anh sẽ sớm về.”
Tôi gọi điện cho con gái ở Mỹ. Nó nói: “Mẹ tìm ông làm gì nữa? Mấy chục năm rồi, người ta bỏ mẹ thì mẹ nên quên đi.” Tôi không trả lời được.
Ngày dỗ mẹ, họ hàng tụ tập đông. Ông lão lại đến, đứng bên kia đường, tay cầm bó hoa huệ trắng. Cậu Tấn ra đuổi, giật bó hoa ném xuống đất, xô ông ngã. Tôi đứng trong sân, nhìn thấy hết nhưng không bước ra. Người cháu đóng cổng lại. Qua khe cửa, tôi thấy ông nhặt từng cành hoa gãy. Ánh mắt ông nhìn vào bàn thờ mẹ tôi.
Tối hôm ấy, bà Sáu sang, đưa tôi tờ biên nhận. Bà nói: “Cha con chưa từng bỏ con.” Tôi cầm tờ giấy, tay run lên. Tôi gọi điện cho cậu Tấn. Cậu thừa nhận đã giữ tiền, nhưng nói đó là chuyện cũ. Tôi hỏi: “Ông lão ngoài cổng là cha con phải không?” Cậu im lặng rồi đáp: “Giả sử đúng thì sao? Con sẽ đem một người ăn xin về nhận cha à?”
Tôi chạy ra cổng. Ông lão không còn ở đó. Tôi tìm khắp nơi. Cuối cùng, tôi thấy ông nằm bất động trước cổng nhà, người ướt sũng, tay vẫn ôm chặt chiếc túi vải. Tôi đưa ông đến bệnh viện. Bác sĩ nói ông bị viêm phổi nặng, cơ thể suy kiệt.
Trong bệnh viện, tôi mở chiếc túi vải của ông. Bên trong có tấm ảnh mẹ tôi bế tôi thuở nhỏ, mặt sau ghi: “Bé Chim và mẹ, mùa nước nổi.” Có chiếc vòng bạc khắc tên tôi – chiếc vòng cha mua cho tôi năm tôi lên năm, mẹ nói tôi đã đánh rơi. Có hàng chục lá thư cha viết cho mẹ con tôi, chưa từng được gửi. Có một phong bì gửi đến địa chỉ cũ của tôi ở California, bị trả lại vì không tìm thấy người nhận. Có tấm ảnh tôi đứng trước tiệm nêu ngày khai trương, cắt từ một tờ báo cộng đồng. Mặt sau ông ghi: “Con gái tôi đã thành công.”
Tôi đọc lá thư mới nhất bên trong viết: ……..
“Cha nghe người ta nói con đã về làm dỗ cho mẹ. Cha đi qua nhà mấy lần nhưng không dám gọi. Con lớn rồi, ăn mặc đẹp, nhà cửa khang trang. Cha mừng lắm. Cha không có nhà, không có giấy tờ, cũng chẳng còn gì để cho con. Cha sợ con nhận cha rồi bị người ta cười. Mấy hôm nay cha chỉ ngồi ngoài cổng để nhìn con. Nhìn được là đủ.”
Tôi gục xuống, khóc như một đứa trẻ. Tôi đã nghĩ ông ngồi trước cổng để xin tiền. Ông ngồi đó chỉ để nhìn tôi.
Cha tôi tỉnh lại. Ông kể: ngày xưa ông đi làm xa kiếm tiền chữa bệnh cho mẹ, gửi tiền qua cậu Tấn. Cậu Tấn giữ tiền, nói dối rằng mẹ con tôi không muốn gặp ông. Khi ông trở về, cậu Tấn đuổi ông đi, đốt giấy tờ của ông. Ông lang bạt, gặp tai nạn, chân yếu dần, không giấy tờ, không nơi ở. Ông nghe tin tôi sang Mỹ, tìm mua báo cộng đồng, cắt ảnh tôi mang theo. Ông nói: “Cha không mất tích đâu con. Cha đã quay về tìm con nhiều lần. Chỉ là mỗi lần cha trở về, người ta đều nói con không muốn gặp cha.”
Tôi đưa cha về căn nhà nhỏ thuê gần bệnh viện. Tôi chăm sóc ông từng ngày. Chồng tôi gọi từ Mỹ, nói muốn bán nhà, có người khác. Tôi hủy vé máy bay, ở lại Việt Nam. Tôi không muốn bỏ cha thêm lần nữa.
Tôi tổ chức một cuộc gặp họ hàng. Tôi đặt chiếc túi vải, tấm ảnh, chiếc vòng bạc và những lá thư lên bàn. Tôi đọc to lá thư cha gửi mẹ. Tôi đưa tờ biên nhận có chữ ký của cậu Tấn. Cậu Tấn cuối cùng cúi đầu thừa nhận: “Anh không bỏ chị và con Hương.” Cha tôi chỉ nói: “Tôi chỉ cần em nói trước mọi người rằng tôi chưa từng bỏ vợ con.”
Cha tôi yếu dần. Một buổi sáng, ông bảo tôi đưa về căn nhà cũ. Ông ngồi trước cổng, nơi ông từng ngồi suốt những ngày tôi mới về. Ông nói: “Ngày con về, cha đứng ngoài đường từ sáng. Cha thấy con bước xuống xe với hai chiếc vali. Người trong xóm chạy ra chào, họ hàng vây quanh. Cha nhìn lại mình. Áo rách, chân đau, không giấy tờ, không nhà cửa. Cha không dám.”
Tôi mở cổng, đỡ cha bước vào. Ông thắp nhang cho mẹ, nói rất nhỏ: “Tôi về rồi.” Chúng tôi ăn cơm trưa cùng nhau. Cha tôi nhìn chiếc bát trống đặt trước di ảnh mẹ, mỉm cười: “Mẹ con không thích cá nhiều xương. Con nhớ bà ấy thích phần bụng.”
Cha tôi mất vài tuần sau đó. Câu cuối cùng của ông: “Bé Chim, về nhà rồi.” Tôi an táng ông cạnh mẹ. Trên bia mộ tôi cho khắc: “Người cha chưa từng bỏ con.”
Tôi ở lại Việt Nam thêm nhiều tháng. Tôi biến căn nhà lớn thành nơi hỗ trợ người già không nơi nương tựa. Trên cổng, tôi treo tấm bảng nhỏ: “Không ai phải đứng ngoài cửa nhà mình.”
Tôi trở lại Mỹ để giải quyết cuộc hôn nhân. Khải và tôi chia tài sản trong yên lặng. Tôi giữ phần của mình, chuyển đến căn nhỏ hơn. Các con dần hiểu quyết định của tôi. Con gái đưa các cháu về Việt Nam mỗi năm thắp nhang cho ông ngoại.
Một tối mùa đông ở California, tôi nấu canh chua. Tôi dọn hai chiếc bát, một cho mình, một đặt phía đối diện. Bên cạnh là chiếc vòng bạc. Tôi mở chiếc túi vải, mùi vải cũ vẫn còn. Tôi nhớ người đàn ông từng ôm nó ngồi trước cổng, chỉ để nhìn con gái.
Tôi từng nghĩ khoảng cách lớn nhất trong đời mình là từ Việt Nam sang Mỹ. Sau cùng, tôi mới hiểu khoảng cách xa nhất không nằm giữa hai quốc gia. Nó nằm giữa một người đứng ngoài cửa và một người ở bên trong không chịu mở lòng.
Tôi đã đi nửa vòng trái đất để tìm cha. Tôi suýt bỏ lỡ ông khi chỉ cách nhau một cánh cổng. Tiền bạc giúp tôi xây được một căn nhà. Nhưng chính cha tôi, người không có gì ngoài chiếc túi vải cũ, đã dạy tôi hiểu: nhà là nơi một người được phép bước vào mà không cần chứng minh mình có bao nhiêu tiền. Nhà là nơi người ta gọi đúng tên nhau. Nhà là nơi dù trở về muộn đến đâu, vẫn có một người nói: “Con về rồi.”




