Mẹ Nhặt Con Ở Bãi Rác Nuôi 25 Năm – Thành Đại Gia, Con Chối Bỏ Mẹ!
Cổng sắt cao quá đầu người, ba người bước ra từ chiếc ô tô đen, và con trai tôi nhìn thẳng vào mặt tôi rồi nói, to đến mức cả khoảng sân nghe rõ: “Tôi không có người mẹ nhặt rác nào cả.”
Chiếc túi vải tuột khỏi tay. Mấy củ khoai lăn xuống nền gạch. Bộ quần áo sơ sinh tôi thức nhiều đêm khâu từng đường kim rơi ngay dưới chân nó. Tôi cúi xuống nhặt, hai bàn tay run đến mức không cầm nổi. Nó đứng cách tôi chưa đầy hai bước chân, và không cúi xuống giúp mẹ lấy một lần.
Tôi tên Ngọc, bảy mươi hai tuổi. Sáng hôm ấy tôi dậy từ ba giờ, bắt chuyến xe khách đầu tiên lên thành phố. Nghe người quen nói vợ chồng thằng Quân sắp có con đầu lòng, tôi mừng đến mất ngủ mấy đêm. Tôi không mong tiền, không mong ở trong biệt thự. Tôi chỉ muốn nhìn con một lần, trao tận tay con dâu bộ áo nhỏ này.
Anh bảo vệ nhìn bộ quần áo bạc màu của tôi, bảo giám đốc Quân mồ côi cha mẹ từ nhỏ, làm gì có mẹ già dưới quê. Tôi lấy tấm ảnh hai mẹ con ra, chỉ vào khuôn mặt thằng bé học phổ thông. Chưa kịp nói thêm thì chiếc ô tô chạy ra. Quân bước xuống, vest đẹp, tóc chải gọn. Tôi mừng phát khóc, gọi: “Quân ơi, mẹ đây con.”
Mặt nó biến sắc. Người phụ nữ trẻ mặc váy sang đi cùng, về sau tôi mới biết là Thảo Vi, vợ nó. Người đàn ông lớn tuổi bên cạnh là bố vợ. Quân nhìn họ rồi nhìn tôi, ánh mắt chỉ có khó chịu và hoảng sợ. Nó bảo tôi là bà quen ở quê, từng giúp nó vài lần.
Vài lần thôi sao? Hai mươi lăm năm nuôi nấng, bán cả mái nhà cho con đi học. Tôi nuốt nước mắt, gọi lần nữa: “Con nhìn mẹ đi, mẹ là mẹ Ngọc của con đây mà.” Ông bố vợ bắt đầu nhìn tôi đầy nghi ngờ. Và đúng lúc ấy, nó thốt ra câu kia, rồi bảo bảo vệ đưa tôi ra khỏi cổng.
Tôi chỉ kịp hỏi: “Mẹ nuôi con hai mươi lăm năm, chẳng lẽ đến một tiếng mẹ con cũng không muốn gọi sao?” Nó quay mặt đi.
Điều khiến tôi đau nhất không phải bị đuổi. Ngày bé chỉ cần nó vấp ngã, tôi đã chạy đến đỡ. Vậy mà hôm ấy tôi ngã quỵ trước mặt nó, nó lại quay lưng.
Nhưng có một thứ thằng Quân không ngờ tôi vẫn giữ. Dưới đáy chiếc hộp gỗ cũ trong phòng trọ có một tờ giấy nhận nợ gần ba tỷ đồng, chữ ký của chính nó. Và chuyện sẽ không dừng ở cổng biệt thự.
Hai mươi lăm năm trước, đêm ấy mưa như trút. Tôi bốn mươi bảy tuổi, góa chồng, sống bằng chiếc xe đẩy ve chai. Đang lục bãi rác ven thị trấn, tôi nghe một tiếng khóc yếu như mèo con. Giữa đống bao tải ướt sũng, một đứa bé sơ sinh nằm co trong chiếc khăn cũ, mặt tím tái vì lạnh. Tôi cởi áo khoác quấn lấy nó, chạy đi tìm người đưa vào bệnh viện. Lúc ấy tôi chẳng nghĩ mình có nuôi nổi hay không, chỉ sợ chậm thêm chút nữa là nó không còn sống.
Tôi đặt tên nó là Nguyễn Minh Quân. Hôm bế con về, trong túi tôi chỉ còn ba mươi nghìn đồng. Đêm đầu thằng bé khóc vì đói, tôi ôm nó chạy khắp xóm xin sữa, nhà cho, nhà đóng cửa. Sáng hôm sau tôi mang chiếc nhẫn cưới cuối cùng của chồng ra tiệm vàng. Tôi không tiếc. Tôi nghĩ người đã khuất cũng muốn đứa trẻ được sống.
Từ đấy tôi dậy ba giờ nấu cháo, giặt tã, năm giờ đẩy xe đi khắp các ngõ. Có hôm kiếm được vài chục nghìn, tôi mua sữa cho con rồi ăn cơm với muối. Năm Quân tám tháng, nó sốt cao như than, tôi chạy lên bệnh viện huyện mà lục hết túi không đủ tiền. Tôi quỳ xuống van xin chữa trước, may có người phụ nữ tốt bụng giúp. Ba ngày sau nó qua cơn nguy hiểm, tôi nắm bàn tay bé xíu của con, tự nhủ dù nhặt rác đến hết đời cũng phải nuôi nó nên người.
Nó ngoan lắm. Ba tuổi biết lấy khăn lau mồ hôi cho mẹ. Năm tuổi, thấy tôi đẩy xe về là chạy ra ôm chân. Có lần tôi sốt, nó múc nước bằng chiếc cốc nhựa, ngồi cạnh giường đút từng ngụm. Nó bảo sau này sẽ mua nhà đẹp cho mẹ.
Nhưng từ năm lớp bốn, mọi chuyện đổi khác. Hôm ấy tôi nhặt ve chai gần cổng trường, thấy mấy đứa trẻ vây quanh Quân, chỉ vào xe của tôi cười nhạo: mẹ Quân là bà nhặt rác, hôi hám. Nó cúi gằm mặt. Tối ấy nó bỏ cơm, bật khóc hỏi sao mẹ không làm nghề khác. Tôi bảo nghề nào kiếm tiền bằng sức lao động chân chính cũng đáng được tôn trọng. Nó ôm tôi xin lỗi. Tôi tưởng chuyện đã qua, nhưng nhiều năm sau tôi mới hiểu: từ hôm ấy, trong lòng con đã có một vết nứt mang tên mặc cảm.
Có bạn đến nhà, nó giấu chiếc xe ve chai ra sau bếp. Tôi mang áo mưa đến trường, nó nhận thật nhanh rồi bảo mẹ về ngay, đừng đứng trước cổng lâu. Hôm trao giải học sinh giỏi, tôi mặc chiếc áo đẹp nhất, đi bộ gần năm cây số đến xem con nhận giấy khen. Nó chạy xuống kéo tôi ra góc sân: “Mẹ về đi, bạn bè nhìn thấy lại cười.” Tôi mỉm cười: “Mẹ hiểu rồi, con vào nhận thưởng đi.” Ra khỏi cổng trường, nước mắt tôi chảy ròng. Tôi không ăn cắp, không lừa đảo, chỉ nhặt những thứ người ta bỏ đi để nuôi con ăn học. Vậy mà nghề ấy khiến con tôi xấu hổ.
Năm lớp mười một, tôi bị xe máy đâm khi đẩy xe qua đường, chân thương nặng. Chưa đầy mười ngày tôi đã chống gậy ra chợ phế liệu, mỗi bước như kim đâm. Quân thấy thế bật khóc xin nghỉ học đi làm. Tôi gạt phắt: đời mẹ khổ rồi, con chỉ cần học thật giỏi. Nó học ngày học đêm, và đỗ đại học với số điểm rất cao. Cả xóm kéo đến chúc mừng, bảo bà Ngọc nhặt ve chai mà nuôi được con giỏi, sau này chắc chắn hưởng phúc.
Niềm vui kéo dài ba ngày. Rồi hai mẹ con tính học phí, tiền trọ, tiền sinh hoạt, mới biết số tiền dành dụm không đủ cho năm đầu. Tôi bán nốt căn nhà chồng để lại, cái nhà dột nát nhưng là nơi thằng bé lớn lên từ một đứa trẻ bị bỏ rơi. Tôi chuyển đến thuê phòng nhỏ sau chợ, dồn gần hết tiền cho con. Ngày tiễn nó lên thành phố, tôi nhét phong bì vào tay con và dặn ba điều: dù nghèo cũng phải sống ngay thẳng, đừng vì tiền mà làm chuyện thất đức, và dù sau này giàu đến đâu cũng đừng quên người đã giúp mình lúc khó. Nó ôm tôi khóc đỏ mắt. Nó bảo có tiền, việc đầu tiên sẽ làm là đón mẹ lên xây nhà thật đẹp.
Tôi tin lời hứa ấy suốt nhiều năm.
Sau hai năm đại học, tiếng nó thưa dần: một tuần mới gọi một lần, rồi cả tháng. Một chiều, bạn cùng lớp của Quân gọi cho tôi, hỏi tôi có thật là mẹ ruột của nó không. Hóa ra ở trường, nó kể cha mẹ mất từ nhỏ, người đàn bà nhặt ve chai ở quê chỉ từng giúp đỡ nó.
Tết năm ấy nó dẫn về một cô gái ăn mặc sang trọng, Thảo Vi, con gái một doanh nhân giàu có. Vừa bước vào căn phòng trọ chật hẹp, nó kéo tôi ra ngoài, dặn nhỏ: đừng nói mẹ nhặt con từ bãi rác, đừng kể chuyện bán nhà. Bữa cơm tối, Thảo Vi hỏi tôi là gì của Quân. Nó đáp bình thản: người hàng xóm cũ từng cưu mang nó lúc khó khăn. Tôi ngồi ngay trước mặt mà nó nói dối không chớp mắt.
……………………………………………
Tôi vẫn tin thêm một lần. Nó tốt nghiệp xuất sắc, vào công ty bất động sản lớn, được bố Thảo Vi nâng đỡ. Tháng lương đầu nó gửi về năm triệu, tôi khoe khắp xóm. Nhưng mỗi lần gửi tiền đều kèm lời dặn: mẹ đừng lên công ty, đừng gọi giờ làm việc, đừng kể với ai con từng được nhặt từ bãi rác. Tôi dần thấy mình giống một bí mật nó cố giấu.
Rồi nó báo sắp cưới. Tôi dành dụm mua bộ áo dài mới. Hai tuần trước hôm cưới, nó gọi: khách toàn doanh nhân, nhà gái muốn buổi lễ hoàn hảo, mẹ không cần lên. Tôi nghẹn: “Con cưới vợ mà mẹ không được đến sao?” Nó bảo sẽ có bữa cơm riêng ở quê sau. Hôm cưới, tôi nấu nồi chè đỗ xanh nó thích hồi nhỏ, nhờ người gửi đôi nhẫn vàng làm quà mừng. Chiều, bà hàng xóm mang điện thoại sang. Trên màn hình Quân mặc vest trắng, Thảo Vi lộng lẫy, hoa phủ kín sân khấu. Người dẫn chương trình hỏi về gia đình, và nó nói giữa hàng trăm khách: mình mồ côi từ nhỏ, tự lập bằng hai bàn tay trắng.
Hai bàn tay trắng ư? Tôi bảo bà hàng xóm mở lại lần nữa. Từng chữ vẫn rõ ràng. Tôi chỉ hỏi bà một câu: “Có phải trong mắt thằng Quân, tôi đã chết từ lâu rồi không?” Đêm ấy tôi ôm chiếc áo sơ sinh cũ của nó, ngồi đến sáng.
Nhưng nỗi đau thật sự nằm ở khoản tiền kia. Trước đám cưới ít lâu, một chiều nó về, không hỏi chân tôi đau thế nào, chỉ đặt tập hồ sơ lên bàn: nó sắp mở công ty riêng, cần gần ba tỷ, nếu không xử lý đúng hạn sẽ mất hết vốn, mang nợ. “Chỉ cần mẹ giúp lần này, ổn định rồi con trả cả gốc lẫn lãi.” Cả đời tôi chưa dám nghĩ đến con số ấy. Tôi bán nốt phần đất thừa kế, vay thêm bằng tài sản bảo đảm, nhờ người quen gom đủ. Ngày giao tiền tôi bắt nó viết giấy nhận nợ, không phải vì không tin con, mà vì phía sau còn những người đã cho tôi vay. Nó ký ngay, ôm tôi: “Mẹ là người duy nhất không bỏ rơi con.” Tôi khóc vì hạnh phúc.
Công ty qua cơn nguy, nó thay đổi. Mỗi lần tôi nhắc nợ, nó bảo đang xoay vòng vốn, rồi nổi giận: “Mẹ đừng lúc nào cũng nói chuyện tiền bạc, làm như con ăn quỵt.” Số tiền ấy là đất chồng để lại, là cả đời tôi, còn cả phần tôi vay người khác. Tôi vẫn nhặt ve chai, dành từng đồng trả lãi. Tôi nằm viện bảy ngày vì thoái hóa khớp nặng, ngày nào cũng nhìn ra cửa. Nó chỉ nhắn đã chuyển tiền thuốc. Tôi không cần tiền. Tôi cần một lần được nhìn thấy con.
Rồi tin Thảo Vi có thai. Tôi may mấy bộ áo sơ sinh trong những đêm mắt mờ, gói khoai, lạc, bắt xe lên thành phố mà không báo trước, vì sợ nó lại tìm cách từ chối. Và tôi đứng trước cổng sắt ấy, nghe câu nói kia.
Tôi lặng lẽ rời đi. Trước khi bước khỏi cổng, tôi lấy trong túi chiếc khăn cũ từng quấn Quân đêm tôi tìm thấy nó giữa bãi rác, đặt ngay trước cổng biệt thự. Tôi muốn nó nhớ rằng hai mươi lăm năm trước, nếu không có người đàn bà nhặt rác ấy, nó đã chẳng còn cơ hội trở thành giám đốc hôm nay.
Về quê, tôi không còn sức đẩy xe nữa. Nhiều ngày không ăn uống, đến một sáng bà hàng xóm gọi cửa mãi không nghe, đẩy vào thấy tôi nằm bất tỉnh dưới nền nhà. Bác sĩ báo bệnh tim, sức khỏe suy kiệt. Bà hàng xóm gọi cho Quân. Lần thứ ba nó mới bắt máy, giọng khó chịu: đã chuyển tiền rồi, đang bận dự án, bệnh viện có bác sĩ, về cũng chẳng giải quyết được gì. Rồi tắt máy. Hai mươi lăm năm trước nó sốt cao, tôi bế nó chạy giữa đêm mưa, không tiền, không ai giúp, chưa một lần nghĩ đến chuyện bỏ mặc. Đêm ấy tôi viết cho nó một lá thư, dặn đừng vì tiền mà đánh mất lương tâm, và nếu sau này có con, đừng để đứa trẻ chịu cảnh bị bỏ rơi như chính nó ngày xưa. Viết xong tôi gấp lại, không gửi. Tôi sợ nó đọc rồi lại nghĩ mẹ cố làm nó áy náy.
Đúng lúc ấy, Thu Hà xuất hiện, cô luật sư ngoài ba mươi tuổi, ngày nhỏ từng được tôi gom ve chai giúp tiền mua sách. Nghe bà hàng xóm kể hết, cô hỏi tôi còn giữ giấy tờ khoản gần ba tỷ không. Tôi nhờ bà về phòng trọ lấy chiếc hộp gỗ dưới gầm giường: giấy bán đất, giấy vay tiền, chứng từ ngân hàng, tờ nhận nợ có chữ ký của Quân. Tôi bảo cô đừng kiện nó, dù sao cũng là đứa tôi nuôi lớn. Tôi chỉ muốn trả hết những khoản đã vay, để khi nhắm mắt không mang nợ ai.
Nhưng khi Hà liên hệ về khoản vay, Quân nổi giận. Hai ngày sau, một chiếc xe sang dừng trước phòng trọ. Nó bước xuống cùng người đàn ông mang cặp tài liệu. Tôi mừng rỡ, tưởng con về thăm mẹ ốm. Nó không hỏi sức khỏe, không nhìn mấy túi thuốc trên bàn, đặt tập giấy trước mặt tôi: ký vào đây, con đưa mẹ khoản tiền đủ sống đến cuối đời. Tôi run run đọc: xác nhận không còn tranh chấp tiền bạc, cam kết không công khai quan hệ mẹ con. Tôi hỏi: “Con muốn dùng tiền mua sự im lặng của mẹ à? Nếu mẹ ký, từ nay con còn gọi mẹ một tiếng mẹ không?” Nó quay mặt đi. Tôi đặt tập giấy xuống: mẹ có thể nghèo, có thể không lấy lại được tiền ngay, nhưng không thể ký giấy phủ nhận hai mươi lăm năm tình nghĩa. Nó đập tay xuống bàn, bảo mẹ cố chấp, nếu cứ để luật sư can thiệp thì đừng trách con không còn tình nghĩa. Đứa trẻ từng khóc xin mẹ đừng bỏ mình, giờ dùng chính tình nghĩa ấy để đe dọa mẹ.
Chỉ ít lâu sau, công ty nó bị kiểm tra vì dấu hiệu sai phạm. Ông Hưng, bố vợ, phát hiện con rể che giấu nhiều thông tin tài chính, lập tức ngừng hỗ trợ. Đúng lúc ấy Thảo Vi cũng biết chồng mình không hề mồ côi. Người mẹ nhặt rác bị đuổi khỏi cổng biệt thự chính là người đã cứu sống và nuôi nó khôn lớn. Cô hỏi nó vì sao nói dối suốt nhiều năm. Rồi cô đưa con về nhà ngoại, nói một câu nó không trả lời nổi: “Nếu người mẹ nuôi anh hai mươi lăm năm mà anh còn chối bỏ được, làm sao em biết một ngày anh sẽ không bỏ rơi mẹ con em?” Biệt thự bị đưa vào xử lý nghĩa vụ tài chính, nhân viên chậm lương, bạn bè tránh mặt.
Tôi không hả hê. Tôi chỉ thấy xót. Một đêm nó gọi, giọng mệt mỏi, hỏi tôi còn giữ chiếc khăn cũ không. Tôi bảo đã để lại trước cổng biệt thự hôm nó đuổi tôi đi. Đầu dây im lặng rất lâu. Rồi nó nói đã nhặt chiếc khăn lên, cất trong ngăn kéo.
Chỉ vài ngày sau, tôi đau tức ngực, ngã xuống nền nhà khi đang viết dở lá thư. Bà hàng xóm gọi Quân, và lần này người nghe máy là Thảo Vi. Khi nó vội vã chạy về căn phòng trọ, bà trao cho nó chiếc hộp gỗ tôi dặn. Trong ấy ngoài giấy vay ba tỷ còn có cuốn sổ ố vàng ghi từng đồng tôi dành dụm nuôi nó từ ngày nhặt được ở bãi rác: sữa, viện phí, đôi bông tai bán đóng học phí năm nó sáu tuổi, căn nhà bán cho nó học đại học. Không một dòng kể công. Có cả ảnh thơ ấu, giấy khen, lá thư tôi viết mà chưa từng gửi. Trang cuối, tôi viết: nếu một ngày con không muốn nhận mẹ nữa, mẹ cũng không trách, chỉ mong con đừng bao giờ bỏ rơi con của mình như người ta từng bỏ rơi con.
Bà hàng xóm kể nó quỳ sụp xuống nền nhà, ôm chiếc hộp khóc như đứa trẻ. Rồi bệnh viện báo tin tôi nguy kịch. Nó chạy đến, quỳ bên giường, gọi mẹ liên tục, nhưng tôi quá yếu để đáp. Nó hứa nếu mẹ tỉnh lại sẽ công khai nhận mẹ trước mọi người.
Tôi tỉnh dậy. Nhưng khi nhìn người đàn ông quỳ cạnh giường, tôi không nhận ra nó. Tôi hỏi: “Người này là ai, sao đứng cạnh giường tôi?” Bác sĩ nói tôi lú lẫn tạm thời sau biến chứng. Nó quỳ xuống: “Mẹ ơi, con là Quân, đứa trẻ mẹ nhặt từ bãi rác về nuôi.” Tôi vẫn nhìn nó bằng ánh mắt xa lạ. Người con từng tuyên bố không có mẹ, giờ phải chịu cảnh chính mẹ không nhận ra mình.
Nó ở lại bệnh viện, ngày nào cũng đến thật sớm, tự mua cháo, lau mặt, xoa bóp chân tay cho tôi, kiên nhẫn đút từng thìa. Một sáng tôi mở mắt, thấy nó đang cẩn thận lau đôi bàn tay chai sạn của mẹ. Ký ức tràn về. Tôi khẽ gọi: “Quân đấy à? Sao hôm nay con không đi làm mà ở đây với mẹ?” Nó bật khóc, ôm tay tôi gọi mẹ. Tôi cũng khóc, nhưng tôi không vội nói đã tha thứ. Tôi hỏi: “Nếu hôm nay mẹ không nằm viện, nếu công ty con vẫn giàu có, con có còn muốn nhận người mẹ nhặt rác này không?” Nó cúi gằm mặt, không trả lời được.
Từ hôm ấy, nó bán chiếc xe sang cuối cùng, trả nợ, đi làm thuê bốc hàng, kiểm kho, giao hàng. Hai bàn tay trầy xước, nó cười buồn: “Mẹ đẩy xe ve chai nuôi con hơn hai mươi năm, con mới làm vài ngày đã thấm mệt, chẳng có quyền than.” Ngày giữa chợ đông, bà bạn cũ hỏi nó có phải con trai bà Ngọc không, nó khoác tay tôi, nói rất rõ: “Đây là mẹ cháu, người đã nuôi cháu từ nhỏ.” Tôi quay mặt đi lau nước mắt.
Bài viết công khai nhận lỗi của nó gây xôn xao, người cảm động, người chỉ trích. Nó không xóa. Ông Hưng đến bệnh viện cúi đầu xin lỗi tôi, nói sẽ không dùng tiền cứu con rể thêm lần nữa, muốn lấy lại lòng tin, nó phải tự đứng dậy. Tôi gật đầu. Lúc ấy tôi mới hiểu thương con không phải lúc nào cũng là gánh thay.
Ngày Thảo Vi dắt đứa cháu nội đến, cô cúi đầu xin lỗi vì từng coi thường xuất thân của chồng. Lần đầu tiên tôi được ôm đứa cháu mà tôi đã may áo từ khi nó chưa chào đời. Đứa bé chạy vào lòng tôi gọi bà nội.
Tôi không về sống trong biệt thự, cũng không nhận thêm lời hứa nào. Tôi chỉ đặt một điều kiện: nó phải trả những khoản nợ mình gây ra bằng sức lao động chân chính, và tôi muốn dành một phần khoản tiền ba tỷ, khi nó hoàn trả, để giúp những đứa trẻ bị bỏ rơi, những học sinh nghèo không có điều kiện đến trường.
Nó mở một cửa hàng vật liệu nhỏ, làm ăn minh bạch. Tôi chuyển đến căn nhà thuê của hai vợ chồng. Có hôm cháu nội cầm bàn tay chai sạn của tôi, hôn lên từng vết chai, bảo thương bà nội. Ngày xưa Quân từng xấu hổ vì đôi bàn tay ấy.
Thỉnh thoảng, khi đang ăn cơm, tôi vẫn chợt nhớ cảnh mình ôm túi quà đứng ngoài cổng, nhìn con quay lưng. Có lần nó bắt gặp tôi ngồi một mình, nhìn chiếc khăn cũ nó đã nhặt lại từ trước cổng biệt thự. Nó không nói gì, chỉ ngồi cạnh nắm tay tôi, rồi thì thầm: “Con biết mẹ chưa quên hết, con cũng không dám xin mẹ quên.”
Tôi không đáp. Ngoài sân, hoàng hôn đổ nghiêng qua khung cửa, chiếc khăn cũ nằm trong lòng bàn tay tôi vẫn sờn y như đêm mưa năm ấy.
(Tổng số từ: 2095 từ)




