Đại Tá Về Quê Thăm Mộ Con Gái, Chết Lặng Khi Đứa Bé Nói: “Đây Là Mộ Của Mẹ Cháu”

“Cháu lau mộ cho mẹ cháu ạ.”

Thằng bé nói câu ấy rất tự nhiên, tay vẫn cầm chiếc khăn nhỏ vuốt trên tấm ảnh con gái tôi. Bó hoa trong tay tôi bỗng nặng trĩu. Con gái tôi chưa từng lấy chồng. Chín năm nay chưa một ai trong nhà nói với tôi rằng nó từng sinh con.

Tôi là Minh, sáu mươi hai tuổi, đại tá về hưu. Cả đời tôi sống bằng kỷ luật, cái gì cũng phải rõ ràng. Sáng hôm ấy đúng ngày giỗ Ngọc Mai, tôi về quê từ khi trời chưa sáng hẳn, ra nghĩa trang sớm như mọi năm để có chút thời gian chỉ hai bố con. Ngày nó còn sống, hai bố con hiếm khi ngồi nói chuyện cho tử tế. Tôi công tác xa, tính lại khô khan, thương con mà chẳng bao giờ nói ra miệng. Đến lúc nó mất rồi, muốn hỏi nó một câu cũng không còn cơ hội.

Cách mộ chừng hai chục mét, tôi chậm bước. Trước bia có một đứa trẻ tám tuổi, áo sơ mi xanh cũ nhưng sạch, quần hơi ngắn so với chân. Nó đang nhặt từng chiếc lá khô quanh chân mộ. Trước bát hương có ba nén nhang mới, vài quả ổi chín và một bó hoa dại buộc bằng sợi dây nhỏ. Mai thích ăn ổi. Điều đó tôi nhớ rất rõ, và chính nó khiến sống lưng tôi lạnh đi.

Tôi hỏi tên. “Dạ, cháu tên Gia Bảo, tám tuổi ạ.” Tôi tính nhẩm, và trong đầu có thứ gì đó khẽ nứt ra. Nó bị tôi nhìn lâu thì mím môi, hơi cúi mặt xuống. Mai hồi nhỏ cũng y như thế.

Một người đàn ông chừng ba mươi lăm, gầy, da xạm, quần áo lao động xanh, chạy lại kéo thằng bé về phía mình. Nhìn thấy tôi, mặt anh ta đổi hẳn. “Cháu chào bác Minh.” Anh ta biết tôi. Tôi hỏi cậu là gì của Mai, anh ta chỉ đáp: “Chuyện cũ lâu rồi bác ạ. Bây giờ cháu chỉ mong con cháu được bình yên.” Rồi dắt con đi. Thằng bé vừa đi vừa ngoái lại, giơ tay chào mộ mẹ ở đoạn rẽ.

Người đàn ông ấy biết tôi mà không tìm đến nhận thân, lại còn né. Một kẻ muốn lợi dụng sẽ không hành xử như vậy.

Tôi chạy sang nhà ông Sáu Thành, người trông nghĩa trang. “Biết chứ, năm nào họ chẳng tới,” ông nói. Sáu, bảy năm nay, cứ gần ngày giỗ là anh ta đưa con đến từ lúc vắng người, nhổ cỏ, lau mộ, thắp nhang rồi đi ngay. Tên anh ta là Phạm Quốc Hưng. Ông Sáu từng hỏi sao không đi cùng bên ngoại cho vui, anh ta cười: “Nhà ngoại cháu chắc không tiện gặp bố con cháu đâu bác ạ.” Có năm thằng bé hỏi bố: “Bao giờ ông ngoại ra đây cùng mình?” Hưng chỉ đáp khi nào có dịp. Tôi đứng chết lặng. Nó biết mình có ông ngoại. Chỉ mình tôi không biết nó tồn tại.

Tôi nhớ cuộc điện thoại năm xưa khi em trai tôi, Đức Hải, báo Mai quen một người hoàn cảnh bấp bênh. Tôi đã nổi nóng, gọi con mắng, bảo nó đừng làm bố cúi mặt với họ hàng. Mai chỉ nói: “Bố chưa gặp anh ấy mà.” Và tôi đáp: “Không cần gặp, chú Hải tìm hiểu rồi.”

Tôi đã phán xét một người chưa từng gặp, chỉ bằng lời người khác.

Lần theo tờ giấy ông Sáu vẽ, tôi tìm đến khu trọ công nhân sau xưởng cơ khí. Qua khe cửa sổ, tôi thấy một chiếc giường nhỏ, bàn học bằng gỗ ép, cặp sách xanh, và trên tủ nhựa là ảnh Mai mặc quân phục, trước mặt có bát hương. Nếu Hưng muốn diễn, anh ta chẳng cần lập bàn thờ trong căn phòng không ai nhìn thấy. Trên tường, tờ giấy vẽ nguệch ngoạc ba người: bố, con, mẹ.

Bà hàng xóm kể Hưng nuôi con một mình từ khi thằng bé chưa đầy hai tuổi, có hôm vay hàng xóm tiền đưa con đi viện. Nhiều người mai mối, anh đều từ chối: “Người ta thương mình chưa chắc thương được con mình.” Rồi bà hỏi khẽ: “Bác có phải bố của cô Mai không?” Bà dặn: “Thằng này chưa từng nói xấu nhà ngoại trước mặt con đâu.”

Tôi về nhà, lục thùng đồ của Mai dưới gầm giường, thứ tôi không dám mở suốt chín năm. Trong một cuốn sách cũ rơi ra tấm ảnh Mai cười híp mắt bên Hưng, mặt sau là nét chữ nó: “Chờ bố về phép dài ngày, em sẽ nói hết.” Ở đáy thùng có chiếc túi vải đựng đôi tất sơ sinh, vòng bạc nhỏ và phiếu siêu âm thai hai mươi tám tuần. Cuốn sổ tay ghi dòng: “Hưng bảo nếu là con trai thì đặt tên Bảo.”

Tôi cầm tất cả ra phòng khách, đặt trước mặt Hải. “Chú giải thích đi.” Hải im rất lâu, rồi nói một chữ: “Biết.” Cả nhà biết từ khi Mai mang thai bốn tháng. Chỉ có tôi bị bỏ ngoài.

Chiều hôm sau tôi đứng chờ Hưng trước cổng xưởng. Chúng tôi ngồi trong quán nước nhỏ. Anh kể Hải từng gọi anh ra, bảo nhà tôi không chấp nhận, anh phải rút lui. Khi Mai mang thai, họ đưa nó sang ở nhà bà cô bên ngoại. Hơn một tháng sau khi Gia Bảo chào đời, Hải và bà Thu mang phong bì tiền dày đến, bảo anh bế con đi thật xa. Anh không nhận. Anh đề nghị đợi tôi về để nói chuyện, họ đáp tôi đã giao họ giải quyết. “Bác là đại tá, cháu chỉ là thằng thợ. Cháu lấy gì để biết thật giả?” Tôi không cãi được……..

 

……………………………………………

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇

Ngày Mai mất, anh bế con đứng ngoài cổng nghĩa trang. Hải ngăn lại, bảo đông người, để tang lễ xong rồi tính. Anh tin thêm một lần. Một tháng sau anh tìm đến nhà, lại gặp Hải, lại nghe tôi không muốn nhắc chuyện cũ nữa. Khi tôi ngồi trước quan tài con gái, đau tưởng mình là người đau nhất đời, thì ngoài cổng có người đàn ông bế chính cháu ngoại tôi đứng chờ.

Rồi tôi lỡ lời. Tôi nói muốn làm xét nghiệm ADN để không ai phủ nhận cháu. Mặt Hưng tối lại. “Thằng Bảo không phải hồ sơ cần thẩm định. Nếu bác thương nó, đừng bắt nó chứng minh nó là ai.” Anh bỏ đi. Tôi ngồi một mình nhìn tấm ảnh Mai, thấy mình vừa đi đúng vết xe cũ của cả gia đình.

Tôi lái xe sang huyện bên tìm bà Lành, người cô Mai từng ở nhờ. Bà đóng cửa kéo tôi vào nhà: “Cuối cùng cậu cũng biết rồi à?” Mai chưa từng nói bố đuổi Hưng hay bắt bỏ con. Nó chỉ bảo: “Bố chưa biết hết đâu, con muốn đợi bố về rồi tự nói.” Bà còn nhớ cuộc gọi vài ngày trước chuyến công tác cuối: Mai bảo đã viết một lá thư cho bố, nếu không tự nói được thì ít nhất bố cũng biết chuyện thằng Bảo.

Lá thư. Tôi chưa từng được đọc lá thư nào.

Tôi phóng về nhà. Đơn vị đã gửi tư trang của Mai về, tôi đau quá nên giao hết cho Hải cất vào tủ gỗ. Tôi đòi chìa khóa, Hải ấp úng, bà Thu bảo không nhớ. Tôi dọa gọi thợ phá khóa, Hải mới móc chùm chìa từ túi quần. Trong danh mục bàn giao có dòng “một phong thư cá nhân”, nhưng chiếc hộp không có phong thư nào. Nhấc hộp lên, tôi nghe đáy xột soạt. Lớp bìa dưới bong một góc. Tôi thò tay vào khe, kéo ra phong bì vàng cũ, hai chữ “Gửi bố” bằng nét Mai. Mép phong bì đã bị xé.

Tôi rút thư ra. “Bố ạ, con định chờ bố về mới nói nhưng chuyến công tác này gấp quá.” Nó viết nó và Hưng yêu nhau nghiêm túc, mong tôi đừng đánh giá anh chỉ qua hoàn cảnh. Rồi: “Con đã có con trai rồi bố ạ. Thằng bé tên Gia Bảo. Con sợ bố nổi giận, nhưng con sợ hơn là bố chỉ nghe mọi người rồi không cho con cơ hội nói.” Con gái tôi biết tôi đến mức ấy: nó sợ không phải tôi mắng, mà tôi không nghe. Cuối thư, nét chữ nhòe mực: “Nếu con không về được, bố hãy tìm thằng Bảo. Con không muốn sau này con trai con nghĩ mẹ nó là người không có gia đình.”

Tôi giơ thư trước mặt Hải. “Chú đọc rồi đúng không?” Nó nói rất nhỏ: “Có.” Từ lúc tư trang gửi về. “Cả nhà sợ anh đau thêm, nghĩ chuyện cũ khép lại thì tốt hơn.” Tôi hỏi khép lại cho ai. Hải nói về danh tiếng, về tài sản sau này phức tạp. Bà Thu khóc, bảo nghĩ ngắn. Tôi chỉ thấy mệt. Họ gọi đó là yên, trong khi một đứa trẻ lớn lên không biết ông ngoại, một người cha bị tước quyền biết mình có cháu.

Sáng hôm sau tôi mang lá thư đến xưởng. Tôi không nói để thanh minh. Tôi nói tôi không biết gì, nhưng không biết không có nghĩa là không có lỗi: chính vì tôi quá xa gia đình, quá tin lời người khác, quá nặng chuyện nền nếp, nên người ta mới dám lấy tên tôi ra ép hai đứa. Hưng đọc thư rất chậm. Đến đoạn Mai nhắc tên Bảo, mắt anh đỏ lên. “Nó từng bảo cháu là đã viết cho bác.” Hai bên cùng chờ một người. Mai chờ tôi đọc thư, Hưng chờ tôi gọi. Còn tôi chẳng hề biết mình đang được chờ.

“Cháu không sợ xét nghiệm,” anh nói. “Cháu chỉ không chịu được việc nó lại bị đem ra cân xem có đủ tư cách bước vào nhà bác hay không.” Anh đặt điều kiện: đừng đón nó về, đừng đưa tiền bù đắp, đừng kể chuyện người lớn trước mặt nó. Tôi nhận hết. Anh kể suốt tám năm, anh không hề nói xấu nhà ngoại với con: “Cháu không muốn thằng bé lớn lên bằng oán giận.”

Chiều ấy tôi mua một túi ổi, đến dãy trọ. Hưng đặt tay lên vai con: “Đây là ông ngoại của con.” Gia Bảo khoanh tay, lễ phép: “Con chào ông ạ.” Tôi từng được rất nhiều người chào trong đời, chưa lời chào nào khiến tôi vừa vui vừa xót như vậy. Nó ngồi ăn cơm cá kho, kể mẹ hay cười, chạy nhanh hơn bố. Hưng đã giữ Mai sống trong ký ức con bằng những chuyện nhỏ như thế.

Rồi tôi sang đều hơn. Tôi kể nó nghe chuyện Mai chín tuổi trèo ổi rách quần, trốn sau bếp. Nó cười ngặt nghẽo. Lần đầu tôi thấy nó cười vì một ký ức về mẹ do chính tôi trao. Có hôm nó hỏi: “Sao lâu thế ông mới gặp con?” Tôi đáp: “Ông biết về con quá muộn, ông cũng có phần sai.” Tôi không đổ hết cho Hải trước mặt nó.

Cuối tuần Hưng đưa Bảo về nhà. Nó đứng giữa sân hỏi: “Có phải cây mẹ trèo rách quần không?” Rồi chạy tới ngước nhìn cành ổi như vừa tìm thấy báu vật. Tôi từng nghĩ ngày nhận cháu phải có bàn thờ, họ hàng, lời công nhận. Hóa ra chỉ cần một đứa trẻ bước vào sân, biết đây từng là nhà mẹ nó, và cánh cổng không còn đóng với nó nữa.

Trước hôm ấy tôi đã dặn cả nhà: không ai nhắc tài sản, không ai khóc lóc ôm cháu nhận họ. Hải đứng nhìn từ xa, mặt lúng túng. Chiều, nó kéo Hưng ra góc sân: “Chuyện ngày trước chú sai.” Hưng hỏi: “Chú sợ bác Minh nổi giận, hay sợ bác nhận thằng Bảo?” Hải đứng im. Tôi nghe thấy, và hiểu câu hỏi ấy đã chạm đúng bản chất.

Tôi không từ mặt Hải, không đuổi bà Thu. Muốn được thằng bé gọi là người thân thì tự xây lấy, không dựa vào vai vế. Hưng đồng ý để tôi đóng học phí cho cháu, còn mọi thứ khác anh vẫn tự lo.

Gần ngày giỗ Mai, Bảo hỏi: “Năm nay ông đi với con nhé? Mọi năm chỉ bố với con.” Ba người cùng đứng trước mộ. Tôi định nói với Mai “bố đưa con của con đến”, rồi chợt thấy mình nói sai. Thằng bé mới là người đã đến đây suốt nhiều năm. Tôi mới là kẻ đến muộn.

Hôm nay Bảo cao hơn hồi mới gặp nhiều. Nó đưa tôi chiếc khăn: “Ông lau bên này, con lau bên kia.”

Hai ông cháu mỗi người một phía tấm bia. Tôi nhìn ảnh con gái, và nghĩ nó chẳng cần tôi làm điều gì lớn lao nữa. Chỉ mong tôi đừng đến muộn thêm lần nào.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!