Con Trâu Đang Đi Cày Bỗng Lao Đến Một Ngôi Mộ Vô Danh, Quỳ Gục Rơi Nước Mắt Khiến Cả Làng Náo Loạn
Con trâu mộng cùng tôi kéo cày suốt mười năm bỗng giật đứt dây xỏ mũi, hất tung chiếc ách, lao đi giữa buổi trưa nắng trắng như một con thú phát điên.
Tôi ngã chúi xuống bùn, hai đầu gối dập nát. Mấy chục người đang cấy gần đó quăng cả mạ, hoảng hốt nhìn theo. Nó không chạy về chuồng, không tạt vào vạt cỏ non ven mương, mà nhắm thẳng gò đất hoang cuối làng, nơi người ta chỉ chôn những kẻ vô danh trôi dạt vào bãi sông. Tôi cà nhắc chạy theo, lòng nổi lên một nỗi bất an không gọi được tên.
Lên đến đỉnh gò, tôi thấy nó quỳ rạp hai chân trước một nấm mồ thấp lè tè, không bia, không nhang. Từ khóe mắt đục ngầu, từng giọt nước mắt to tròn lăn xuống mép cỏ khô. Cổ họng nó rền lên những tiếng nghẹn ai oán, chẳng khác tiếng người khóc trong đám tang ruột thịt. Dân làng kéo đến đứng quanh, im phăng phắc. Mấy ông cụ thì thào: loài vật có linh, dưới nấm mồ này ắt có oan khuất.
Tôi run run đặt tay lên lưng nó. Nó không nhúc nhích, chỉ húc mũi liên hồi, cào bới lớp đất khô như muốn lôi một thứ gì đó lên. Bùn văng ra, một mảnh bạc đen xì lộ ra. Tôi quỳ xuống, lau đi lớp đất. Là chiếc vòng bạc chạm hoa sen.
Chiếc vòng của con Lan, đứa em gái cùng cha khác mẹ, bặt vô âm tín hai mươi năm. Suốt hai mươi năm tôi tin rằng nó đã chết ở một xưởng may nơi phố xa, như lời một người đàn bà từng kể với tôi. Vậy mà em tôi nằm đây, ngay cạnh ruộng cày của nhà mình.
Công an xã cắm dây phong tỏa gò đất, trời đổ cơn mưa rào. Hơn hai tiếng sau, họ tìm thấy bộ hài cốt bọc trong chiếc chiếu mục, chôn rất nông. Bên cạnh là mảnh vải hoa tím than mục một nửa, vạt áo bà ba mẹ kế tôi may cho Lan dịp Tết năm ấy. Tôi ngã quỵ xuống vũng bùn. Con trâu đứng trơ như tượng đá dưới mưa, đầu gục về miệng hố, thở dài từng cơn. Hai mươi năm nó mang bí mật này, câm lặng kéo cày qua gò đất ấy mà không thể cất lời.
Tôi lớn lên ở một cù lao nghèo ven sông Tiền. Mẹ ruột mất khi tôi lên năm, cha gà trống nuôi con, rồi cưới người đàn bà hiền lành xóm dưới, sinh ra Lan. Tôi bỏ học sau lớp năm để theo cha làm mướn, nhường chữ nghĩa cho em. Bàn chân tôi nứt nẻ vì phèn chua, chỉ mong mua cho nó tấm áo mới, quyển vở thơm. Mẹ kế mất khi Lan mười sáu, cha ốm liệt giường, trong nhà chỉ còn ba cha con và một con trâu mộng. Lan lớn thành cô gái nết na nhất vùng.
Chiều giáp Tết năm ấy, ông Ba Khiêm, người chú họ cha tưởng đã chết mất xác từ thời loạn, xuất hiện trên chiếc xe máy bóng loáng, quà cáp đầy tay, khoe làm ăn khấm khá ở Sài Gòn. Ông ta cứ dán mắt vào Lan, hứa đưa nó lên phố làm việc nhẹ lương cao, còn rút vào tay cha tôi cả sấp tiền lo thuốc. Con bé khóc van: thà ở nhà ăn cháo rau chứ không theo người lạ. Tôi, mù mắt vì nghèo, quát nạt ép nó gật đầu.
Cả tuần đó con trâu bỏ ăn, đêm nào cũng đập sừng vào gióng chuồng. Mỗi lần ông Khiêm ra sân sau, nó đỏ ngầu mắt, thở phì như muốn húc chết hắn. Tôi chỉ nghĩ nó sợ hơi người thành phố.
Đêm trước hôm đi, bão ập xuống. Ông Khiêm xin ngủ lại, rót rượu ngoại mời cha con tôi cạn chén mừng Lan đổi đời. Tôi thiếp đi ngay. Trong cơn mê, tôi nghe tiếng trâu rống thất thanh, tiếng thét nghẹn của em gái. Tôi bò ra cửa. Ánh chớp soi một bóng đàn ông vác bao tải nhuốm máu lao vào mưa. Sáng ra Lan biến mất, ông Khiêm cũng đã đi từ tinh mơ, còn con trâu dính đầy đất đỏ, mạn sườn rớm máu. Thứ đất đỏ chỉ có ở gò hoang kia, mà tôi ngu muội không nhận ra. Vài hôm sau, lời đồn lan khắp làng: Lan trộm tiền theo gã lái buôn. Cha uất nghẹn, cấm nhắc tên nó, rồi qua đời trong cay đắng.
Hơn mười năm tôi sống như cái bóng. Rồi hai năm trước, một chiều mưa cuối năm, tôi gặp Duyên co ro dưới mái hiên chợ cũ, ôm bọc quần áo ướt sũng, hỏi đường tìm người quen đã dọn đi. Cô run rẩy xin ở nhờ một đêm. Nhìn cô, tôi thấy bóng dáng Lan lưu lạc nơi đầu đường xó chợ. Cô ở lại, nấu từng bữa cơm, vá từng chiếc áo sờn vai, cắm hoa lục bình trên bàn thờ. Căn nhà lạnh bao năm có mùi khói bếp.
Ba tháng sau, nửa đêm tôi bắt gặp cô quỳ sau hè, tay ôm chiếc hộp gỗ đen. Một mảnh giấy ố vàng cháy xém rơi ra: ngày sinh của Lan, và bên dưới là chữ ký của Ba Khiêm, nét chữ khiến máu tôi đông cứng. Duyên òa khóc ôm chân tôi. Cô nói mình cũng bị lão lừa bán vào xưởng may, nơi Lan nương náu những ngày cuối, và trước khi tắt thở, em tôi đã nhờ cô mang hộp về cho anh. Cô còn đưa chiếc khăn tay thêu sen đã phai màu. Nhìn đường kim vụng về quen thuộc, tôi bật khóc, tin cô như ân nhân.
Tôi trao cho cô chiếc hộp sắt cha để lại, vàng lá, tiền dành dụm mười năm, cả sổ gốc mảnh đất hương hỏa. Đêm ấy con trâu gầm gừ nhìn Duyên bằng đúng ánh mắt nó từng nhìn ông Khiêm. Tôi lại gạt phăng.
Vài tháng sau, nửa đêm tôi nghe cô thì thầm bên bụi chuối, giọng lạnh tanh, không còn chút dịu dàng:………
……………………………………………
“Lão già tin sái cổ rồi, cứ theo kế hoạch.” Tôi giẫm gãy cành củi, cô giật mình, rưng rưng bảo chỉ gọi hỏi mộ phần cha mẹ. Tôi lại tự dối lòng.
Rồi hộp sắt trống rỗng. Máng nước của con trâu lợn cợn thứ bột xám. Một hôm cô đi vắng, chiếc hòm gỗ khóa đồng hé mở. Dưới đáy là chứng minh thư mang tên khác, giấy nợ hàng trăm triệu ký tên cô, bên cho vay là Ba Khiêm, kèm mảnh giấy nguệch ngoạc: phải lấy bằng được đất bãi bồi của lão Bảy. Trong túi áo mưa của cô rơi ra tấm bản đồ quy hoạch cảng sông, đóng dấu đỏ. Mảnh bãi bồi toàn lau sậy ấy nằm ngay tim đường vào cầu cảng, đáng giá bạc tỷ.
Tối đó cô bưng bát cháo gà, hai mắt dán chặt vào từng thìa. Dưới đáy bát lợn cợn bột trắng. Tôi vờ sặc, hắt cả bát xuống gầm chõng. Nửa giờ sau con chó vện sùi bọt mép, co giật rồi chết. Tôi nằm giả mê man. Quá khuya, hai gã đàn ông lạ lẻn vào, bẻ tay tôi ấn vào hộp mực đỏ. Chiếc điện thoại bật loa ngoài, một giọng trầm khàn ra lệnh: xong đêm nay, dựng hiện trường chết đuối. Duyên van xin đừng giết người ở đây, bị gã tát ngã. Tôi đạp gã ngã ngửa, ném chiếc bát hương vào mặt gã kia, tro than mù mịt, rồi lao ra màn mưa.
Tôi gào cầu cứu, nhưng cả xóm tắt đèn, then cài cửa cạch cạch. Sáng ra, loa xã rền rĩ: lão Bảy phát điên, cầm dao chém người, đốt bếp. Duyên băng cánh tay trắng xóa, khóc làm chứng suýt bị tôi bóp cổ. Những người từng ăn chung củ khoai với tôi chỉ trỏ đòi bắt nhốt lão. Tôi thành kẻ điên ngay trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn, nhà bị niêm phong.
Tôi trốn vào chòi bỏ hoang của người coi nghĩa địa, sốt run lên. Chiều ấy thằng Cò, cháu ngoại ông Hai thợ mộc, mười hai tuổi, lén mang cho tôi bọc cơm nguội và hai củ khoai nướng. Nó thì thào: chúng sẽ cho máy xúc san phẳng mộ cha tôi vào rạng sáng mai, mượn cớ giải phóng mặt bằng.
Nghe xong, nỗi sợ trong tôi tan sạch. Tôi nhớ cha từng chôn một chiếc hộp thiếc dưới gốc sung cổ thụ bên mé sông. Nửa đêm, tôi lặn trong mương bèo, né ánh đèn pin quét loang loáng, dùng bàn tay trần đào đến bật máu móng. Chiếc hộp gỉ sét hiện ra. Trong đó có sổ đất cũ và lá thư cha viết trước ngày mất. Ông kể về người cháu họ tên Tuấn, con bác Cả, kẻ trộm vàng rồi bỏ trốn ba mươi năm trước, cả họ tưởng đã chết đuối. Cha chưa từng báo ai, lặng lẽ trả hết nợ nó vay, để dành nửa mảnh đất chờ ngày nó quay về.
Tôi bò sát vách tôn căn lán dự án, bấm ghi âm trên chiếc điện thoại cũ thằng Cò đưa. Ba Khiêm cười khà khà đòi nốt tiền công dựng vụ tôi hóa điên, khen Duyên đóng kịch đạt, chỉ rạch nông bắp tay là cả làng tin. Một tên đàn em ra đi tiểu, đèn pin quét sượt qua đầu. Tôi dìm mặt xuống bùn, nín thở gần một phút.
Rạng sáng, tiếng máy xúc gầm rú. Tôi chạy đến mộ cha, thấy lưỡi gầu đã giơ cao, và một bóng người mảnh khảnh quỳ trong bùn, hai tay giang ra ôm tấm bia. Là Duyên. Cô khóc như xé ruột, nói mình chỉ vì món nợ cứu người mẹ đang nằm viện. Đúng lúc ấy, đèn pha một chiếc xe sang quét tới. Người đàn ông mặc áo măng tô bước xuống: ông chủ tịch quỹ tín dụng xã, người suốt mười lăm năm cấp gạo cứu trợ cho tôi mỗi mùa giáp hạt, người cả làng gọi bằng ân nhân.
Ông ta bảo tôi đưa chiếc cặp ra, đổi lấy tiền sống an nhàn. Giọng trầm khàn ấy, chính là giọng trong chiếc điện thoại đêm nọ. Ông ta vén mái tóc ướt, lộ vết sẹo dài sau mang tai, vết do đòn gánh của cha tôi để lại ba mươi năm trước. Tuấn. Kẻ tưởng chết đuối đã mượn danh phận khác trở về, ôm mối hận rằng cha tôi giấu kho báu trong quan tài. Tôi giơ chiếc hộp thiếc: dưới mộ chẳng có kho báu nào, chỉ có lá thư tha thứ và nửa mảnh đất cha để dành cho hắn.
Hắn gào lên, vớ thanh sắt lao tới. Cùng lúc Duyên đứng bật dậy, điện thoại phát trực tiếp cả cuộc đối thoại lên mạng, đèn pha xe máy từ đầu làng ập tới, công an huyện cùng bà con do con trai ông Hai dẫn đường. Tuấn bị quật xuống bùn ngay chân bia mộ. Viên trung tá đọc lá thư của cha trước cả làng. Gương mặt hắn sụp đổ, hắn quỳ dập đầu xuống nền đất lạnh, gọi “bác ơi” trong tiếng nấc. Ba Khiêm ngã quỵ, lạy lục khai hết.
Bản án nặng nề rơi xuống đầu bọn chúng, nhưng có một câu hỏi tòa không trả lời được: Lan ở đâu. Ba Khiêm im lặng suốt trong trại, còn Duyên thề rằng chuyện xưởng may là kịch bản người ta bắt cô thuộc lòng. Tôi vẫn đợi. Rồi hai năm sau, giữa vụ chiêm, con trâu giật đứt dây chạy lên gò hoang. Hóa ra nó đã chờ đến ngày tôi đủ tỉnh để đi theo.
Lan được đưa về nằm cạnh cha dưới bãi bồi. Tôi đặt chiếc vòng bạc lên mộ em, vuốt lớp cỏ mới. Con trâu đứng sau lưng, đầu gục xuống, thở dài thườn thượt như đêm bão năm ấy. Hai mươi năm tôi cày ngang qua nỗi oan của em mà chẳng nghe thấy gì. Chiều nay khói nhang loang qua lau sậy, gió lùa nhè nhẹ, thoáng như có ai gọi “anh Bảy ơi”. Tôi quay lại. Chỉ có con trâu, và chiếc ách cũ treo trên vách chuồng, sợi dây xỏ mũi đứt từ hôm ấy vẫn chưa nối lại.




