Chồng công an về nhà tìm vợ mang thai, phát hiện nàng đang chuyển dạ dưới gầm cầu cách nhà hơn mười cây số

Chồng công an về nhà tìm vợ mang thai, phát hiện nàng đang chuyển dạ dưới gầm cầu cách nhà hơn mười cây số………

Tôi chạy xuống gầm cầu Đông Lâm trong cơn mưa nặng hạt. Dưới chân là bùn và những tấm bìa carton đã ướt sũng. Chiếc túi màu xanh nhạt nằm lệch một bên. Bên cạnh là chiếc nón cũ, trong còn vài tờ tiền năm nghìn, mười nghìn bị gió thổi xô vào góc. Mai nằm nghiêng sau trụ bê tông, một tay ôm bụng, hai chân phù đến mức dép gần như không còn đi vừa. Quần áo dính bẩn, tóc rối, mặt xanh mét. Cô ấy đang chuyển dạ.

Tôi quỳ xuống, gọi tên. Mai ngẩng lên nhìn rất lâu, như không chắc người trước mặt có thật. Câu đầu tiên cô ấy nói không phải “sao anh mới về”. Cô ấy hỏi: “Anh tìm được em thật à?” Rồi khi tôi định đỡ cô ấy dậy, Mai nắm chặt cổ tay tôi, lắc đầu mạnh: “Anh đừng đưa em về nhà. Em thà ở đây.”

Lúc ấy tôi mới hiểu. Trong chín tháng tôi đi làm nhiệm vụ để giữ bình yên cho người khác, người vợ đang mang con của tôi đã bị đẩy đến mức thà nằm sinh dưới gầm cầu còn hơn quay về căn nhà của chồng.

Tôi tên Trần Quốc Thành, năm ấy ba mươi bảy tuổi, đại úy công an. Vợ tôi Ngọc Mai kém tôi sáu tuổi, trước đây dạy mầm non hợp đồng. Chúng tôi cưới nhau gần bốn năm. Hai lần mất con. Lần thứ ba Mai mang thai, cả hai gần như dốc hết hy vọng vào đứa bé. Tôi nhận nhiệm vụ dài ngày cách nhà gần bảy trăm cây số. Ngày tôi đi, Mai mới hơn hai tháng. Tôi dặn mẹ: “Con gái con cũng là con mẹ, cháu nội cũng là cháu của mẹ.” Mẹ vỗ vai tôi, bảo yên tâm. Tôi tin.

Trước khi đi, Mai từng hỏi tôi sau này có điều kiện thì vợ chồng ra riêng được không. Tôi bảo bố mất rồi, mẹ chỉ còn tôi ở cùng, chuyển ra mẹ sẽ buồn. Tôi còn nói mẹ khó tính một chút nhưng bản chất không xấu, em nhường mẹ vài câu cho nhà cửa yên. Mai không tranh luận. Cô ấy chỉ nói nếu anh nghĩ vậy thì thôi. Tôi tưởng chuyện đã xong.

Tôi giao tiền cho mẹ, giao việc đưa Mai đi khám cho chị Hòa. Tiền lương của Mai từ sau lần sảy thứ hai mẹ giữ giúp. Tôi gửi tiền về cũng cho mẹ. Tôi nghĩ như thế thuận tiện. Tôi không nghĩ tới chuyện nếu một ngày mẹ không cho tiền thì vợ tôi muốn bắt taxi đi khám cũng khó.

Hai tháng đầu qua điện thoại vẫn bình thường. Sang tháng thứ tư giọng Mai khác đi. Cô ấy ít kể hơn. Có cuộc gọi mới được vài phút, tôi nghe mẹ đứng gần nhắc Mai nói nhanh còn xuống nhặt rau. Mai lập tức bảo tôi giữ gìn sức khỏe rồi tắt máy.

Mẹ bắt đầu quan tâm đặc biệt đến giới tính đứa trẻ. Cứ vài hôm lại nhìn bụng Mai đoán trai gái. Mai nói đã mất hai đứa rồi, lần này con khỏe mạnh là được. Mẹ không vui. Bà bảo làm dâu nhà có con trai độc nhất phải hiểu trách nhiệm khác. Mai hỏi nhẹ: “Nếu con sinh con gái thì mẹ không thương cháu ạ?” Mẹ đáp: “Thương thì vẫn thương nhưng rồi vẫn phải đẻ cho được thằng con trai.”

Lần khám thai tiếp theo, chị Hòa bận, Mai xin mẹ tiền bắt xe. Mẹ không đưa. Bà nói chưa cần đi. Mai nhắc bác sĩ dặn vì tiền sử sảy thai nên không được bỏ lịch. Cuối cùng Mai không đi được vì tiền mặt chỉ còn hơn trăm nghìn. Một lần hoãn thành hơn hai tuần. Khi tôi gọi về hỏi, mẹ đứng gần nói vọng vào rằng thai khỏe. Tôi yên tâm. Mai không đính chính.

Tiền Mai muốn mua gì cũng phải hỏi mẹ. Hộp sữa hơn bốn trăm nghìn mẹ thấy đắt. Bộ váy bầu mẹ bảo mặc đồ rộng cũ là được. Có lần Mai muốn gửi năm trăm nghìn cho dì đang nằm viện, mẹ nói tiền đó phải dành cho đứa bé. Mẹ luôn có lý do nghe qua rất hợp lý. Thành ra nếu Mai phản ứng, người ngoài rất dễ nghĩ cô ấy không biết điều. Còn tôi ở xa chỉ nghe được một nửa nên càng dễ đứng về phía mẹ.

Có lần Mai đi bộ ra hiệu thuốc mua viên sắt. Về nhà mẹ hỏi đi đâu mà không xin phép. Mai nói: “Con ba mươi mốt tuổi rồi, con đi mua thuốc cũng phải xin phép mẹ sao?” Mẹ giận. Tối tôi gọi về, mẹ chỉ kể Mai có thai nên tính tình thay đổi. Tôi gọi cho Mai bảo mẹ lớn tuổi rồi, có gì em nói nhẹ thôi. Mai hỏi tôi có hỏi xem chuyện gì xảy ra không. Tôi đáp dù chuyện gì cũng không nên làm mẹ buồn. Mai không tranh cãi nữa. Sau lần đó cô ấy gần như không nhắc đến mẹ nữa. Tôi lại tưởng hai người đã ổn.

Mẹ bắt đầu kiểm soát điện thoại của Mai. Tối phải để máy ngoài phòng khách. Có hôm tôi gọi lúc hơn chín giờ, mẹ nghe máy nói Mai ngủ rồi. Sáng hôm sau Mai gọi lại rất nhanh rồi tắt. Tôi còn đùa sao dạo này nói chuyện với chồng cứ như gọi điện hỏi thăm xã giao. Mai cười rất gượng.

Khi Mai hết nghén, mẹ cho rằng cô ấy khỏe rồi thì phải làm như bình thường. Hôm ấy mẹ bảo Mai chuyển mấy túi thóc vào trong vì sắp mưa. Mai nói bác sĩ dặn không bê nặng. Mẹ khó chịu. Chị Hòa sang cũng bảo ngày trước chị mang thai vẫn làm hàng đến sát ngày sinh. Tối đó mẹ gọi cho tôi kể vợ tôi bây giờ việc gì cũng lấy cái thai ra làm lý do. Tôi chỉ nhắn Mai nếu làm được việc gì nhẹ thì phụ mẹ.

Mỗi lần mẹ kể trước thì tôi xử lý Mai dựa trên lời mẹ. Tôi cứ nghĩ mình đang hòa giải. Nhưng thực tế người phải nhường gần như lần nào cũng là Mai. Tôi sợ mẹ tủi thân. Mẹ nuôi tôi lớn một mình nên trong đầu tôi luôn có cảm giác mình mắc nợ mẹ. Chính cái tâm lý đó khiến tôi không công bằng với vợ.

Đến khoảng tháng thứ năm, một người quen nhìn hình siêu âm rồi đoán có khả năng là con gái. Mẹ tin. Tối hôm ấy bà gọi hỏi nếu Mai sinh con gái thì tính thế nào. Tôi nói sinh thì nuôi. Mẹ trách tôi nói dễ. Tôi gắt lên một chút, bảo mẹ đừng gây áp lực cho Mai. Mẹ lập tức khóc. Tôi lại phải xuống giọng xin lỗi.

Không lâu sau Mai gọi cho tôi vào gần mười một giờ đêm. Cô ấy hỏi bao giờ tôi về. Tôi bảo có thể còn bốn tháng nữa. Mai hỏi nếu bây giờ cô ấy muốn về ở với dì một thời gian thì tôi có đồng ý không. Mai nói ở nhà cô ấy thấy ngột ngạt, mẹ soi mọi việc, tiền không được giữ, muốn đi khám cũng phải chờ người cho phép. Tôi lại lo mẹ ở nhà biết, con dâu bỏ đi trong lúc con trai đi công tác sẽ mang tiếng. Tôi bảo em cố thêm một thời gian, anh về rồi anh giải quyết. Mai hỏi lại: “Nếu em không cố nổi đến lúc anh về thì sao?” Tôi chưa kịp trả lời thì phía ngoài có tiếng cửa mở. Mai lập tức tắt máy.

Sáng hôm sau mẹ gọi trước. Bà nói Mai đêm qua lén lấy điện thoại, định gọi người đến đón về nhà dì. Tôi gọi lại cho Mai suốt ngày nhưng không được. Đến tối cô ấy mới nghe máy. Giọng rất mệt. Mai chỉ nói một câu: “Em nói rồi, anh có tin em không?” Tôi bảo đương nhiên là tin, nhưng ngay sau đó tôi lại thêm: “Có điều em cũng phải hiểu cho mẹ.” Và có lẽ chính câu sau đã xóa sạch câu trước. Từ hôm đó cô ấy không còn xin tôi cho về nhà dì, cũng không than thở nữa. Mỗi lần tôi gọi Mai đều nói mình ổn. Tôi lúc ấy chưa hiểu rằng một người thôi kêu cứu chưa chắc vì cuộc sống đã tốt hơn. Có khi chỉ vì họ đã bắt đầu tin rằng kêu cứu cũng chẳng thay đổi được gì.

 

Khoảng cuối tháng thứ năm tôi gọi về vào buổi trưa, mẹ bắt máy nói Mai đang ngủ. Chiều tôi gọi lại thì chị Hòa nghe máy nói Mai sang nhà hàng xóm. Hai câu trả lời không ăn khớp khiến tôi bắt đầu để ý.

Tối hôm ấy tôi gọi cho bà Năm Tuyết hàng xóm. Bà nghe giọng tôi thì hỏi ngay: “Có phải cháu đang lo cho Mai không?” Bà kể hơn một tuần trước, trời lạnh khoảng hơn chín giờ tối, bà thấy Mai đứng ngoài sân nhà tôi, chỉ khoác chiếc áo mỏng, bụng đã khá lớn. Cửa chính đóng, cổng khóa từ bên trong. Mai gõ cửa mấy lần nhưng không ai mở. Bà nghe mẹ tôi nói vọng ra rằng đứng đó mà nghĩ xem mình sai ở đâu, bao giờ biết điều thì vào. Mai đứng ngoài gần một tiếng, sau đó ngồi xuống bậc thềm vì đau lưng.

Tôi nghe xong không tin nổi. Tôi gọi cho mẹ trước. Mẹ lập tức…………….

……………………………………………

Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇

khóc, nói bà nuôi tôi mấy chục năm, giờ tôi đi xa lại tin lời người ngoài. Bà kể hôm đó Mai làm mất một khoản tiền trong tủ. Bà giận nên khóa cửa một lúc để Mai bình tĩnh. Tôi yêu cầu đưa máy cho Mai. Mẹ nói Mai ngủ rồi. Đêm đó tôi gọi số của Mai liên tục nhưng không được. Sáng hôm sau mẹ nhắn điện thoại Mai bị hỏng. Tôi gọi chị Hòa. Chị lại nói máy không hỏng mà mẹ cất đi vì Mai dùng nhiều quá.

Ba ngày sau tôi mới nói chuyện được với Mai. Giọng cô ấy khàn. Tôi hỏi có phải bị khóa ngoài sân không. Mai đáp rất nhanh là không. Nhưng trong lúc nói tôi nghe tiếng mẹ đứng gần đó bảo nói gì thì nói nhanh lên. Mai lập tức đổi giọng. Trước khi tắt máy, Mai bỗng nói: “Nếu có ngày em không còn ở nhà nữa thì anh đừng nghĩ em tự bỏ đi.”

Từ hôm ấy tôi bắt đầu chủ động gọi nhiều hơn. Nhưng càng gọi càng ít gặp Mai. Rồi có một buổi chiều bà Tuyết gọi, giọng rất căng. Bà nói vừa thấy Mai ngồi ở bậc cửa sau, mặt tái, hai chân phù nhiều. Bà còn thấy trên cổ tay Mai có vết đỏ như bị nắm mạnh. Tôi gọi về nhà ngay nhưng không ai bắt máy. Đến tối mẹ mới gọi lại. Bà rất bực, rồi nói một câu làm câu chuyện chuyển hướng hoàn toàn: “Mày thương nó thế. Nhưng có chắc đứa trong bụng nó là con mày không?”

Tôi tưởng mình nghe nhầm. Mẹ bảo bà đã tính ngày tháng rất nhiều lần và thấy không khớp. Mẹ nhắc khoảng thời gian trước nhiệm vụ này tôi cũng từng đi công tác hơn hai tuần. Tôi phản bác ngay. Tôi nói tuổi thai bác sĩ tính từ kỳ kinh cuối. Hơn nữa trước khi tôi đi chính tôi đã đưa Mai đi siêu âm, bác sĩ xác nhận thai hơn tám tuần. Mẹ lại bảo người già không hiểu cách tính của bác sĩ. Rồi mẹ bắt đầu nhắc đến thầy Vũ, một đồng nghiệp cũ của Mai. Mẹ kể trước khi tôi đi bà từng thấy thầy Vũ chở Mai về tận đầu ngõ. Cách mẹ nói không phải kiểu khẳng định. Bà cứ nói nửa câu rồi dừng. Chính kiểu nói đó mới nguy hiểm.

Hai hôm sau chị Hòa gọi. Chị hỏi tôi có nhớ ngày dự sinh không. Chị bảo trong họ đã có người tính thử và thấy hơi lạ. Rồi một người bác gọi hỏi bóng gió. Một đứa em họ nhắn hỏi Mai mang thai được bao nhiêu tháng. Đến lúc đó tôi hiểu chuyện mẹ nghi ngờ đã được kể ra ngoài.

Tối đó tôi gọi bốn lần Mai mới nghe. Tôi hỏi thầy Vũ còn làm gần trường cũ không. Mai ngạc nhiên. Tôi hỏi trước đây thầy ấy có từng đưa cô ấy về không. Mai nói có đúng một lần xe bị thủng lốp. Chuyện đó cô ấy đã kể rồi. Tôi lại hỏi ngoài lần ấy có lần nào khác không. Mai hỏi tôi đang muốn hỏi em chuyện gì. Tôi vẫn không dám nói thẳng. Rồi Mai hỏi thẳng: “Mẹ nói với anh đứa bé không phải con anh đúng không?” Tôi đáng lẽ phải trả lời ngay, nhưng tôi lại nói một câu rất dở: “Anh chỉ muốn mọi chuyện rõ ràng. Nếu không có chuyện gì thì sau này sinh con ra, cần thiết mình xét nghiệm là xong.” Vừa nói xong tôi đã biết mình sai. Mai hỏi: “Anh cũng muốn xét nghiệm à?” Tôi vội giải thích rằng tôi không nghi cô ấy. Nhưng với một người đang bị cả nhà chồng nghi ngờ thì hai chuyện ấy khác nhau được bao nhiêu đâu. Mai nói rất chậm: “Em hiểu rồi.” Rồi cô ấy tắt máy.

Từ hôm ấy Mai gần như không bước ra cổng nữa. Tôi gọi cho Mai bằng điện thoại bà Tuyết vào một buổi chiều. Tôi bảo nếu ở nhà không chịu nổi thì sang nhà dì. Mai không đồng ý ngay. Cô ấy nói giấy tờ tùy thân và sổ khám thai đều đang nằm trong tủ mẹ giữ. Rồi Mai nói cho tôi một việc tôi chưa từng biết. Mẹ đã hỏi cô ấy nhiều lần rằng sau này nếu xét nghiệm đứa bé không phải con tôi thì cô ấy có tự nguyện rời khỏi nhà và không đòi hỏi tài sản gì không. Chị Hòa cũng từng mang một tờ giấy sang bảo Mai ký xác nhận sau này không tranh chấp phần đất phía sau. Mai không ký.

Mai tìm được cách xem lại tập giấy cũ. Bên trong có tờ giấy viết tay ghi tên bố tôi là Trần Văn Tấn và bố Mai là Lê Văn Bình. Nội dung xác nhận ông Tấn đã nhận của ông Bình một khoản tiền để cùng mua phần đất phía sau nhà. Có chữ ký của cả hai người và hai người làm chứng. Mai nhìn ngày trên giấy thì thấy xảy ra hơn hai mươi năm trước. Cô ấy còn thấy một lá thư viết dở của bố tôi, trong đó bố nhắc khoản tiền của ông Bình vẫn chưa giải quyết dứt điểm. Mai chụp nhanh vài tấm rồi giấu thẻ nhớ riêng. Đúng lúc đó mẹ về sớm. Mẹ tát Mai một cái. Đây là lần đầu tiên mẹ động tay với cô ấy.

Hai ngày sau Mai gọi cho tôi bằng điện thoại bà Tuyết. Cô ấy kể chuyện giấy tờ, kể chuyện bị tát và dặn tôi nếu sau này cô ấy không còn ở nhà thì tìm chiếc túi đồ sơ sinh màu xanh nhạt. Cô ấy bảo mẹ và chị Hòa đang ép ký ngày càng gấp.

Hôm xảy ra chuyện, thai của Mai khoảng ba mươi bốn tuần. Sáng đó mẹ nói trong tủ mất hơn hai triệu đồng. Họ kiểm tra thật, lục cả túi đồ chuẩn bị sinh. Mai hoảng vì thẻ nhớ đang được giấu trong đường chỉ của chiếc túi vải nên bước tới giữ lại. Hai bên kéo qua kéo lại, Mai mất thăng bằng lùi vào cạnh bàn.

Sau lần công an xã tới, mẹ bắt đầu nói rằng nếu Mai đã coi gia đình này là nơi giam giữ mình thì không cần ở đây. Bà yêu cầu Mai ký một tờ giấy ghi rằng cô ấy tự nguyện về nhà người thân. Mai không ký. Đến sáng ngày thứ ba, mẹ đem quần áo của Mai đặt ra ngoài hiên. Chị Hòa đứng đó. Bà nói một câu rất lạnh: “Nếu cô đã không tin nhà này, không nghe người lớn, lại còn nghi chuyện đất cát, thì cô đi đâu cô thấy tốt mà ở. Khi nào thằng Thành về sinh con ra xét nghiệm rõ ràng rồi tính.” Mai không chịu đi. Cô ấy nói đây là nhà của chồng cô ấy. Mẹ không có quyền đuổi. Mẹ đáp rằng nhà đất vẫn do bà quản lý. Tôi đang đi vắng. Mai đòi gọi cho tôi. Mẹ không đưa điện thoại. Mai đòi giấy tờ tùy thân, sổ khám thai và thẻ ngân hàng. Mẹ chỉ đưa sổ khám thai.

Mai lấy đúng hai bộ quần áo, sổ khám thai và chiếc túi đồ sơ sinh có dấu thẻ nhớ. Bà Tuyết đưa cho Mai một triệu đồng tiền mặt. Mai khóc không muốn nhận. Nhưng không còn cách nào khác. Cô ấy bước ra khỏi cổng khi bụng đã vượt mặt. Và điều đau nhất là lúc đó tôi vẫn chưa biết. Mẹ gọi cho tôi vào buổi tối nhưng chỉ nói Mai cãi nhau rồi tự ý bỏ sang nhà người khác.

Đến hôm sau tôi mới liên lạc được với bà Tuyết. Bà vừa nghe giọng tôi đã nói ngay: “Thành, Mai không phải bỏ nhà đi. Nó bị đẩy ra khỏi cổng.” Mai chỉ ở nhà bà một đêm. Sáng hôm sau cô ấy cầm túi đồ sơ sinh, sổ khám thai, một triệu đồng rồi rời đi. Không ai biết cô ấy đi đâu. Một người mang thai ba mươi mấy tuần, không có căn cước, không thẻ ngân hàng, không điện thoại riêng, chỉ có một triệu đồng và vài bộ quần áo.

Tôi gọi tất cả những nơi Mai có thể đến. Không ai biết. Mẹ vẫn nói Mai cố tình trốn. Tôi không tin nữa. Một người phụ nữ đang mang thai gần ngày sinh không tự nhiên biến mất mà không điện thoại, không giấy tờ, không người thân bên cạnh.

Sau này Mai kể lại. Ngày đầu tiên cô ấy thực sự đã định bắt xe về nhà dì. Nhưng quãng đường hơn trăm cây số, bụng vẫn gò từng cơn. Cô ấy sợ đang đi giữa đường mà chuyển dạ. Cuối cùng Mai không lên xe. Cô ấy thuê một phòng trọ bình dân gần bệnh viện huyện. Vì không có căn cước, chủ nhà trọ ban đầu không muốn nhận. Tiền bắt đầu hao rất nhanh. Ngày thứ ba Mai phải rời nhà trọ. Cô ấy đi bộ ra khu chợ. Có một cô bán cháo thấy Mai mang bụng lớn mặt xanh, cho một bát cháo không lấy tiền. Hôm ấy là bữa tử tế nhất Mai ăn từ lúc rời nhà.

Ban ngày cô ngồi gần mấy sạp hàng, tối thì tìm chỗ mái hiên ngủ tạm. Ban quản lý chợ không cho người ngủ qua đêm lâu. Mai cố nhặt chai nhựa, lon nước để bán ve chai. Với bụng hơn tám tháng và chân phù, cúi xuống nhặt đồ rồi đứng lên rất khó. Đến khoảng ngày thứ sáu hoặc thứ bảy Mai gần như hết tiền. Một bà bán rau thương cô ấy cho hai mươi nghìn. Sau đó những người khác cũng bắt đầu cho năm nghìn, mười nghìn. Từ chỗ nhận đồ ăn vì người ta thương, Mai dần rơi vào hoàn cảnh phải ngồi ở một chỗ để chờ người khác giúp.

Sau hơn một tuần, ban quản lý chợ bắt đầu nhắc không được ngủ quanh khu vực nữa. Có một nhóm người nhặt ve chai nói với cô rằng dưới gầm cây cầu cách chợ khoảng hơn cây số có chỗ khô. Tối đầu tiên Mai xuống gầm cầu, cô ấy sợ lắm. Không phải chỗ đó có ai làm gì cô mà vì lần đầu tiên cô hiểu mình thực sự không còn mái nhà. Cô lót mấy tấm bìa tôn, trải chiếc khăn mỏng lên rồi nằm nghiêng. Túi đồ sơ sinh lúc nào cũng ôm sát người. Ba ngày Mai vẫn đi chậm ra chợ. Cô ngồi gần lối vào chợ, đặt chiếc nón bên cạnh. Ban đầu không hề có ý xin tiền, nhưng người ta cứ bỏ vào. Mai cũng không còn đủ sức từ chối nữa.

Tôi về đến đầu làng vào khoảng hơn bốn giờ chiều. Trời hôm ấy âm u, bắt đầu có mưa nhỏ. Tôi đi thẳng về nhà. Mẹ đang ngồi nhặt rau ở hiên. Câu đầu tiên mẹ hỏi là sao về mà không báo. Tôi không trả lời, chỉ hỏi Mai đâu. Mẹ nói ngay nó bỏ đi rồi còn đâu. Tôi bước thẳng vào phòng hai vợ chồng. Quần áo của Mai gần như không có. Góc trước đây để đồ sơ sinh cũng trống. Tôi mở tủ tìm căn cước của Mai thì thấy giấy tờ của cô ấy vẫn nằm trong một chiếc ví nhỏ. Thẻ ngân hàng cũng ở đó. Tôi cầm hai thứ ấy ra hỏi mẹ tại sao Mai bỏ đi mà giấy tờ với thẻ vẫn ở nhà.

Tôi sang nhà bà Tuyết ngay. Bà kể lại toàn bộ buổi sáng Mai bị đẩy đồ ra ngoài cổng. Bà còn nói Mai chỉ cầm đúng một triệu đồng bà cho. Chỉ cần nghe hai chữ chợ huyện tôi lên xe đi ngay. Đến nơi tôi đi từng dãy hỏi. Đến một cô bán cháo gần cổng phụ vừa nhìn ảnh cô ấy đã nhận ra. Cô hỏi anh là người nhà cô này à. Tôi nói là chồng. Cô nhìn tôi rất khó chịu rồi hỏi chồng mà để vợ bụng to thế này đi xin ăn một mình à. Tôi nghe chữ xin ăn mà đầu óc như bị ai đánh mạnh. Cô bán cháo nói khoảng hơn chục ngày nay Mai thường quanh quẩn ở chợ. Tối thường đi về phía cây cầu Đông Lâm. Cô còn kể sáng hôm đó Mai nói bụng tụt xuống nhiều, đau lưng và cứ một lúc lại đau quặn.

Tôi chạy ra xe. Cầu Đông Lâm cách chợ hơn cây số. Tôi đi nhầm phía đầu tiên. Một bác bảo từng thấy người phụ nữ mang thai ở phía bên kia gần trạm xăng. Tôi quay xe chạy vòng. Mưa lúc ấy lớn hơn. Tôi để xe trên đường rồi chạy bộ xuống. Dưới cầu có mấy tấm bạc, bìa tôn. Tôi nhìn quanh không thấy Mai. Có một bác lớn tuổi đang gom đồ. Bác ấy nhận ra ngay nói con bé có bầu phải không. Nó vừa về đây lúc nãy. Bác chỉ sâu vào phía trong trụ cầu. Tôi chạy tới thì không thấy người. Đúng lúc ấy một người phụ nữ nhặt ve chai từ phía trên chạy xuống, bảo cô có thấy Mai đau bụng dữ quá nên dìu vào chỗ kín gió phía sau trụ bê tông. Tôi chạy vòng qua và từ xa tôi đã nhìn thấy chiếc túi màu xanh nhạt.

Xe cấp cứu tới rất nhanh. Họ kiểm tra sơ bộ rồi bảo Mai có dấu hiệu chuyển dạ thật. Nước ối đã ra. Lúc đặt Mai lên cáng cô ấy vẫn giữ khư khư chiếc túi màu xanh. Tôi bảo để anh cầm. Mai không chịu. Cô ấy nói anh cầm rồi đừng đưa cho ai. Lên xe bác sĩ hỏi người nhà đâu. Tôi nói tôi là chồng. Ông ấy nhìn quần áo của tôi rồi nhìn Mai, có vẻ không hiểu vì sao một người có chồng lại rơi vào tình trạng ấy.

Đến bệnh viện, Mai được đưa thẳng vào khu sản. Bác sĩ khám rồi nói cổ tử cung đã mở, chuyển dạ tiến triển khá nhanh. Vì Mai không mang căn cước nên khâu tiếp nhận mất thêm thời gian. Trong lúc ký giấy, tay tôi run tới mức chữ ký gần như méo hết.

Khoảng gần chín giờ tối, tôi nghe tiếng trẻ con khóc. Một lúc sau nữ hộ sinh đi ra bảo mẹ tròn con tương đối ổn. Bé trai sinh non nhẹ hơn hai cân ba, cần chuyển sang khu theo dõi sơ sinh. Mai mất sức nhiều nhưng chưa có biến chứng nghiêm trọng. Tôi nghe tới chữ bé trai thì chẳng thấy vui. Điều duy nhất tôi nghĩ là con còn sống. Cái đứa trẻ bị người ta nghi ngờ từ khi chưa chào đời, bị lấy ra làm lý do để đuổi mẹ nó khỏi nhà, cuối cùng sinh ra trong bệnh viện sau khi mẹ nó được đưa lên từ một gầm cầu.

Khi Mai ngủ, tôi mang chiếc túi màu xanh ra hành lang. Tôi tìm đúng đường chỉ cô ấy đã nói. Bên trong có một chiếc thẻ nhớ rất nhỏ. Trong đó có hơn chục tấm ảnh. Có bốn tấm đọc được khá rõ. Đúng như cô ấy nói, có một tờ giấy viết tay giữa bố tôi và bố Mai. Nội dung xác nhận bố Mai đưa cho bố tôi một khoản tiền để cùng mua phần đất phía sau nhà. Tôi còn thấy ảnh một lá thư bố tôi viết dở, trong đó bố nhắc khoản tiền vẫn chưa giải quyết dứt điểm. Tôi ngồi đọc từng dòng mà người lạnh đi. Mai không dựng ra chuyện này. Cô ấy chỉ từ chối ký một thứ mà chính tôi nếu có mặt ở nhà cũng không thể ký bừa.

Ba ngày sau khi Mai sinh, tôi về nhà. Mẹ vừa thấy tôi đã hỏi cháu nội thế nào. Tôi nghe hai chữ cháu nội mà thấy rất chua chát. Mẹ hỏi là trai hay gái. Tôi nói con trai. Gương mặt mẹ thay đổi ngay. Bà mừng đến mức đứng dậy. Tôi nhìn mẹ rất lâu rồi hỏi: “Nếu là con gái thì sao mẹ? Nếu nó là con gái thì Mai có được ở nhà không.” Mẹ bắt đầu trách tôi vừa về đã nói chuyện khó nghe. Bà bảo chuyện trước đây chỉ vì tức giận. Giờ tôi về rồi thì bỏ qua.

Tôi đặt căn cước, thẻ ngân hàng của Mai lên bàn và hỏi tại sao những thứ này vẫn nằm ở nhà khi mẹ luôn nói Mai tự bỏ đi. Mẹ không trả lời thẳng. Chị Hòa cũng sang. Chị vẫn nói không ai đuổi Mai chỉ là lúc nóng giận đặt đồ ra ngoài. Tôi hỏi nếu đặt đồ của một thai phụ ra ngoài cổng rồi nói không ký giấy thì đi thì còn gọi là gì? Không ai nói được.

Tôi mở ảnh tờ giấy viết tay rồi đặt điện thoại xuống bàn. Mẹ vừa nhìn đã thay sắc mặt. Tôi hỏi tại sao tên bố Mai lại có trong giấy nhận tiền của bố tôi. Mẹ nói chuyện ngày xưa đã giải quyết rồi. Tôi hỏi giải quyết bằng cách nào? Có giấy nhận tiền, giấy thanh toán không? Mẹ bảo chuyện hơn hai mươi năm rồi ai còn giữ. Tôi nói nếu không chứng minh được đã giải quyết thì càng không thể ép Mai ký từ bỏ quyền lợi. Chị Hòa lập tức nói chị chỉ muốn nhận phần đất mẹ hứa cho. Tôi tin có thể chị thực sự không biết hết nguồn gốc, nhưng chị biết rất rõ mình đã cùng mẹ ép Mai ký và cùng kể ra ngoài chuyện đứa bé.

Tôi bảo từ thời điểm đó, mọi giấy tờ liên quan phần đất phía sau tạm dừng. Không ai được tự ý lấy tên tôi hoặc Mai để ký bất cứ giấy xác nhận nào. Mẹ khóc. Bà nói tôi vì vợ mà quay lưng với mẹ. Lần này tôi nói con không quay lưng với mẹ, nhưng con cũng không thể quay lưng với cái sai chỉ vì người làm sai là mẹ con.

Tôi đã thuê một căn nhà nhỏ gần bệnh viện. Khi Mai và con được xuất viện, cả ba sẽ ở đó. Mẹ bảo nhà cửa có sẵn, tại sao phải đi thuê cho thiên hạ cười. Tôi hỏi mẹ còn nghĩ điều đáng sợ nhất sau từng ấy chuyện là thiên hạ cười à? Mẹ bật khóc lớn hơn. Tôi không thấy hả hê. Đó vẫn là mẹ tôi. Người đã nuôi tôi từ nhỏ. Chính vì biết những điều tốt mẹ từng làm là thật nên việc đối diện với những gì mẹ làm với Mai càng đau.

Khi xuất viện, Mai đồng ý cùng con về căn nhà tôi thuê. Nhưng cô ấy nói rõ đó chưa phải là việc tha thứ. Cô ấy cần nơi ổn định để nuôi con và cần thời gian xem tôi có thực sự thay đổi hay chỉ đang ân hận vì vừa chứng kiến hậu quả. Có đêm con khóc, hai vợ chồng cùng thức. Tôi nhìn Mai bế con đi lại trong căn phòng nhỏ, tự nhiên nhớ đến lúc cô ấy nằm dưới gầm cầu. Tôi từng nghĩ chỉ cần tìm được vợ đưa vào viện, sinh con an toàn thì bi kịch coi như qua. Không phải. Người bị tổn thương không thể trở lại như cũ chỉ vì người gây ra tổn thương đã nhận lỗi. Mai vẫn giật mình khi có tiếng người gõ cửa mạnh. Cô ấy không muốn mẹ tôi đến gần con trong thời gian đầu. Tôi tôn trọng.

Một lần Mai hỏi tôi có biết lúc em nằm dưới cầu, điều em trách anh nhất là gì không. Tôi nghĩ cô ấy sẽ nói việc tôi từng nghi con. Nhưng Mai lắc đầu. Cô ấy nói: “Em trách nhất là những lần em nói em mệt, anh đều bảo em cố thêm một chút.” Câu đó theo tôi đến tận bây giờ. Bởi người ta thường nghĩ mình phải làm một điều gì rất tàn nhẫn mới khiến người thân đau. Không hẳn. Đôi khi chỉ là cứ bắt họ chịu thêm, nhịn thêm một chút, cố thêm một chút, đợi mình thêm một chút cho tới ngày họ không còn sức để cố nữa.

Mỗi lần đi qua cây cầu Đông Lâm, tôi vẫn không dám nhìn lâu xuống phía dưới. Bởi tôi nhớ chiếc nón có mấy tờ tiền lẻ, nhớ mấy tấm bìa carton, nhớ người vợ của mình nắm cổ tay tôi và nói: “Đừng đưa em về nhà.” Một mái nhà mà khiến người ta sợ quay lại hơn cả một gầm cầu thì dù tường có chắc đến đâu, trong đó cũng đã có thứ đổ vỡ từ rất lâu rồi.

 

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!