Cô Gái Dân Tộc Liều Mạng Cứu Chàng Đại Úy Trong Rừng, Ai Ngờ lại nhận được kết cục như thế này…..
……………………………………………
Tôi là Hải Uy, Đại úy Biên phòng, 33 tuổi. Câu chuyện tôi sắp kể được viết bằng máu, bằng nước mắt và bằng sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ mà tôi mang nợ cả đời.
Bốn năm trước, trong một chuyên án truy quét băng đảng ma túy có vũ trang ở vùng rừng núi Tây Bắc, tôi bị thương nặng. Máu tuôn xối xả. Địa hình đất lở, tôi trượt chân rơi xuống vách núi, ngất lịm. Khi tỉnh dậy, tôi không biết mình đã hôn mê bao lâu. Toàn thân đau đớn như bị hàng ngàn mảnh thủy tinh cứa nát. Thần chết đã đứng sát bên.
Thì một thiên thần xuất hiện. Cô gái ấy – Hạ San, người dân tộc thiểu số, đang đi hái thuốc trong rừng, vô tình phát hiện ra tôi nằm thoi thóp dưới khe suối. Đôi mắt cô ấy trong veo nhưng ngập tràn sự hoảng sợ khi nhìn thấy máu me bê bết trên người tôi.
Từ trên đỉnh núi vọng xuống tiếng chó săn sủa inh ỏi và tiếng bước chân rầm dập của bọn tội phạm. Chúng vẫn đang lùng sục để thủ tiêu tôi. Hạ San hiểu ngay tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Với thân hình nhỏ bé, cô ấy không thể cõng tôi vượt núi. Bằng một sức mạnh phi thường, cô dùng cành cây ngụy trang, kéo lê tôi qua những bụi rậm đầy gai góc, giấu tôi vào một căn nhà sàn hoang vắng sâu trong hẻm núi. Cô xóa sạch mọi dấu vết để đánh lạc hướng lũ chó săn.
Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài nhất, đớn đau nhất nhưng cũng thiêng liêng nhất đời tôi. Trong rừng sâu thiếu thốn trăm bề, không thuốc kháng sinh, không bông băng, Hạ San đã trở thành một vị y tá bất đắc dĩ, giành giật mạng sống cho tôi từ tay tử thần. Cô đi tìm lá cây rừng có tác dụng cầm máu, không có dụng cụ giã thuốc, cô đưa những nắm lá chát ngầm vào miệng nhai nát rồi đắp lên vết thương đang sưng tấy mưng mủ nơi mạn sườn tôi. Mỗi lần đắp thuốc, tôi cắn nát cả môi để không bật ra tiếng kêu. Nhưng nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán cô, nhìn ánh mắt xót thương lo lắng của cô, tôi thấy mọi cơn đau như được xoa dịu.
Đỉnh điểm của sự nguy kịch là vào đêm thứ ba. Tôi lên cơn sốt rét rừng tàn khốc, cộng với vết thương nhiễm trùng, cơ thể rơi vào trạng thái sốc nhiệt. Toàn thân lạnh toát như một tảng băng. Bên ngoài trời mưa rét căm căm. Căn lán nhỏ không đủ sức chắn gió lùa. Hạ San đã đốt hết số củi khô nhưng vẫn không thể xua đi cái lạnh đang đóng băng dòng máu tôi.
Trong giây phút tuyệt vọng nhất, khi thấy nhịp thở của tôi yếu dần, cô gái nhỏ bé ấy đã đưa ra một quyết định mà cả đời này tôi mang nợ. Cô cởi bỏ lớp áo khoác ngoài ướt sũng của tôi và dùng chính thân thể thanh khiết ấm áp của mình ôm chặt lấy tôi, ủ ấm cho tôi bằng chính nhiệt độ cơ thể suốt cả một đêm dài. Tôi nằm trong vòng tay cô, cảm nhận từng giọt nước mắt nóng hổi của cô rớt xuống gò má tôi, thì thầm những câu nói đứt quãng: “Anh bộ đội ơi, anh đừng chết… anh hãy sống lên.”
Sự hy sinh vô điều kiện, thuần khiết ấy đã kéo linh hồn tôi từ cõi âm quay trở lại.
Trong lúc tôi hôn mê, vì tôi liên tục khát nước, Hạ San đã xách ống tre đi tìm nguồn nước suối. Trời mưa trơn trượt, cô trượt chân ngã lăn xuống dốc. Khi khập khiễng bước về, trên tay cô vẫn ôm chặt ống nước, nhưng trên bả vai phải là một vết cắt sâu hoắm do đá nhọn cào rách, máu chảy ướt đẫm cả mảng áo. Tôi tỉnh dậy nhìn thấy cô nén đau dùng tro bếp rắc lên vết thương của chính mình để cầm máu. Vết thương ấy quá sâu, không được khâu vá, đã để lại một vết sẹo lớn sần sùi, vĩnh viễn in hằn trên bờ vai gầy guộc của người con gái mới tròn 19 tuổi.
Nửa tháng trời đồng cam cộng khổ, từ hai người xa lạ, sự sống và cái chết đã bện chặt hai trái tim. Giữa cái trốn thâm sơn cùng cốc, tình yêu đã nảy nở, thuần khiết và mãnh liệt như một bông hoa rừng vươn lên từ kẽ đá.
Rồi cũng đến ngày tiếng trực thăng cứu hộ vang vọng khắp núi rừng. Đêm cuối trước khi chia tay, chúng tôi ngồi bên bếp lửa tàn. Hạ San dùng những cọng cỏ xương khô bện thành một chiếc vòng tay nhỏ nhắn, đeo vào cổ tay tôi, đôi mắt ngấn lệ thì thầm: “Cái vòng này là bùa bình an của bản em. Anh mang theo đi đâu cũng nhớ đường về. Đừng quên em nhé.”
Tôi tháo chiếc la bàn quân dụng – vật bất ly thân từ ngày nhập ngũ – đặt vào lòng bàn tay cô. Tôi siết chặt tay cô, nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy, rõng rạc thề bằng danh dự của một người lính: “San à, em giữ lấy chiếc la bàn này. Dù anh có đi đến phương trời nào, kim la bàn luôn chỉ về hướng Bắc. Còn trái tim anh vĩnh viễn chỉ hướng về em. Em hãy đợi anh. Khi chuyên án kết thúc, anh sẽ thưa chuyện với ban chỉ huy đơn vị, xin phép gia đình, lên tận bản đón em về làm vợ. Anh hứa sẽ lấy em. Anh sẽ dùng cả phần đời còn lại để đền đáp vết sẹo trên vai em.”
Cô ôm trầm lấy tôi. Nước mắt hạnh phúc ướt đẫm cả bờ vai tôi.
Ngày hôm sau, khi đội cứu hộ đưa tôi lên trực thăng, tôi cố ngoái đầu nhìn lại. Hạ San đứng dưới triền đồi, tay nắm chặt chiếc la bàn trước ngực, mỉm cười vẫy tay chào tôi. Ánh mắt cô kiên định, ngập tràn niềm tin vào lời thề hẹn của một người lính.
Tôi cũng tin như vậy.
Trên trực thăng, dù cơ thể đau nhức, tôi vẫn nắm chặt chiếc vòng tay tết bằng cỏ xương khô. Tôi vẽ ra những dự định tương lai: sẽ viết đơn trình lên thủ trưởng, xin phép kết hôn với ân nhân cứu mạng mình. Tôi biết mẹ tôi ở thành phố vốn có lối suy nghĩ truyền thống, luôn muốn tôi môn đăng hộ đối với con gái nhà gia thế, từng nhiều lần muốn ghép đôi tôi với Thủy Linh – một nữ bác sĩ quân y, con gái một vị thủ trưởng cấp cao. Nhưng tôi tin rằng với đạo lý uống nước nhớ nguồn, bố mẹ tôi sẽ hiểu và đón nhận Hạ San.
Tôi sai rồi. Tôi đã không biết rằng một cái bẫy dơ bẩn, một kịch bản tàn độc đã được những kẻ mang danh nghĩa người nhà và đồng chí âm thầm giăng sẵn.
Khi tôi vừa trở về căn cứ, tôi được đưa vào phòng phẫu thuật. Sau vài tháng nằm trên giường bệnh, tôi đã viết một bức thư dài gửi bố mẹ, kể về Hạ San và xin phép được cưới cô. Nhưng tôi chưa kịp gửi thì tiếng kẻng báo động chiến đấu lại vang lên. Tôi xung phong xuất viện sớm, tham gia một chiến dịch mới. Trong lúc giải cứu con tin, tôi bị một quả bom tự chế hất văng vào vách đá, hôn mê sâu.
Chính cái lỗ hổng chí mạng đó đã tạo cơ hội cho lũ ác quỷ ra tay.
Thủy Linh – người được phân công theo dõi các chỉ số sinh tồn của tôi – vốn để ý say mê tôi từ trước, lại được sự hậu thuẫn của chính mẹ tôi. Trong lúc dọn dẹp tủ đồ cá nhân của tôi, cô ta đã lục lọi và phát hiện ra bức thư cùng chiếc vòng cỏ xương khô. Cô ta nổi điên ghen tuông, mang cả hai thứ đi gặp mẹ tôi.
Thay vì xúc động trước câu chuyện con trai được cứu mạng, mẹ tôi lại phản ứng bằng sự khinh miệt. Trong mắt bà, Hạ San chỉ là một đứa con gái rừng rú, nghèo hèn, không xứng đáng bước chân vào gia đình thế phiệt của bà. Hai người đàn bà ấy đã hợp lưu lại với nhau, vạch ra một kế hoạch ác độc. Họ làm giả một tờ giấy báo tử mang tên tôi, có đóng dấu đỏ vô cùng tinh vi.
Rồi họ thuê xe, vượt hàng trăm cây số đường rừng, tìm đến tận bản làng nơi Hạ San đang sinh sống. Hôm đó, Hạ San đang ngồi trước hiên nhà sàn, ánh mắt ngóng về phía con đường mòn. Cô đã chờ đợi, đã đếm từng ngày với niềm tin mãnh liệt. Cô vừa biết tin mình mang thai – giọt máu của tôi đang tượng hình trong bụng. Cô đang ngập tràn hạnh phúc, chuẩn bị khoe với tôi tin vui ấy.
Mẹ tôi và Thủy Linh bước xuống xe, khoác trên mình những bộ quần áo sang trọng. Mẹ tôi ném tờ giấy báo tử cùng một cọc tiền xuống chiếc bàn tre trước mặt cô, giọng lạnh tanh: “Tôi là mẹ ruột của Hải Uy. Thằng Uy nó vừa hy sinh. Đây là giấy báo tử. Số tiền này coi như trả ơn cứu mạng. Từ nay ân oán sòng phẳng. Đừng bao giờ nhắc đến tên con trai tôi nữa.”
Lời nói dối ấy quá hoàn hảo. Chiếc la bàn trên tay cô rơi xuống sàn gỗ, vỡ tan mặt kính. Hạ San ngất lịm đi ngay tại chỗ. Khi tỉnh dậy, cô ôm mặt khóc gào đến cạn kiệt sinh lực. Cô đã mất đi người đàn ông duy nhất cô yêu thương. Một cô gái chưa chồng mà chửa là một nỗi nhục nhã, sẽ bị dân làng khinh khi, xua đuổi. Sợ hãi dân làng sẽ bắt cô phá thai, vì bản năng làm mẹ, vì muốn bảo vệ giọt máu cuối cùng của tôi, ngay trong đêm hôm đó, Hạ San đã gói ghém vài bộ quần áo rách, cất kỹ chiếc la bàn vỡ kính vào ngực áo, không cầm theo một đồng tiền nào trong cọc tiền dơ bẩn kia, lặng lẽ trốn khỏi bản làng. Cô dẫn thân vào chốn thị thành xa lạ, làm một người mẹ đơn thân đầy tủi nhục.
Còn tôi, sau khi hôn mê sâu ba tháng, từ từ mở mắt tỉnh lại. Mẹ tôi đang ngồi bên cạnh. Thấy tôi vừa thều thào gọi tên Hạ San, bà lập tức dựng lên một câu chuyện rối trá: “Con ơi, con đừng nhắc đến con đàn bà bạc bẽo ấy nữa. Lúc con hôn mê, đơn vị có người lên bản báo tin con bị thương nặng, có nguy cơ sống đời thực vật. Nó vừa nghe tin đã lập tức viện cớ gia đình khó khăn, đòi đơn vị đưa cho một cục tiền tuất rồi ôm tiền đi theo một gã lái buôn gỗ giàu có.”
Tôi nằm bất động, hai hàng nước mắt ứa ra, chảy ngược vào trong mang tai, mặn chát và đắng ngắt. Làm sao tôi có thể tin được người con gái đã từng lấy thân mình ủ ấm cho tôi lại là kẻ tham phú phụ bần? Nhưng mẹ tôi đã đưa ra những nhân chứng quá hoàn hảo. Thủy Linh cũng thêm thắt vào, nói rằng chính quyền địa phương xác nhận Hạ San đã rời khỏi bản, không ai rõ tung tích. Mẹ tôi còn mang cả cái vòng cỏ xương khô ra, bảo rằng cô trả lại để chấm dứt ân oán.
Bị dồn vào chân tường của sự thất tình, tuyệt vọng và những áp lực của chữ hiếu, tôi đã đầu hàng số phận. Tôi nghĩ rằng nếu người con gái mình dùng cả mạng sống để yêu thương đã cầm tiền chạy theo kẻ khác, thì cái thân xác tàn tạ này sống hay chết lấy ai làm vợ cũng đâu còn quan trọng. Tôi ngầm gật đầu đồng ý cuộc hôn nhân do hai bên gia đình sắp đặt với Thủy Linh. Một lễ đính hôn rình rang được tổ chức. Nhưng không ai biết rằng trong những đêm khuya tĩnh lặng, tôi vẫn lấy chiếc vòng cỏ xương khô đã héo úa ra, nắm chặt nó trong tay cho đến khi những cọng cỏ đâm vào da thịt rớm máu.
Bốn năm đằng đẵng, tàn khốc như cướp đi cả một đời người.
Định mệnh đã sắp đặt cho chúng tôi chạm mặt nhau một lần nữa tại chính cái thành phố ồn ào này. Tôi được giao nhiệm vụ đưa một đồng chí cấp dưới đến một trung tâm phục hồi chức năng. Khi đang đẩy xe lăn đi dọc hành lang, bỗng nhiên từ phía cuối hành lang một giọng nói cất lên dỗ dành một bệnh nhân lão khoa. Chỉ một âm sắc vang lên thôi, nhưng nó giống như một tiếng sét đánh thẳng vào đỉnh đầu tôi. Dù bốn năm đã trôi qua, làm sao tôi có thể quên được cái giọng nói thì thầm bên tai tôi trong suốt những đêm sốt rét rừng thập tử nhất sinh ấy.
Tôi quay ngoắt người lại. Ở cách tôi chưa đầy mười mét, một nữ hộ lý mặc bộ đồng phục màu xanh nhạt đang cúi người xoa bóp chân cho bệnh nhân. Mái tóc đen dài ngày xưa giờ được búi gọn sau gáy. Dáng người cô gầy gò, mỏng manh đi rất nhiều. Và rồi như có một luồng điện xẹt qua, cô ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô va thẳng vào ánh mắt tôi. Thời gian xung quanh chúng tôi như ngừng trôi.
Đó chính là Hạ San.
Nhưng cái khoảnh khắc chạm mặt ấy không hề có những giọt nước mắt mừng rỡ. Vừa nhìn thấy tôi sống sờ sờ trong bộ quân phục đại úy, khuôn mặt Hạ San lập tức trắng bệch, đôi mắt mở to, giãn ra vì sự bàng hoàng khiếp đảm tột độ, hệt như người ta nhìn thấy một bóng ma từ cõi âm trở về. Khay thuốc trên tay cô rơi xuống nền gạch, vỡ tan tành. Cô lùi lại mấy bước, hai tay ôm lấy ngực. Đôi mắt đỏ ngầu ấy không có sự chột dạ mà chỉ có đau đớn, uất hận và khinh bỉ. Cô lập tức quay gót bỏ chạy.
Tôi lao theo, túm lấy cổ tay cô ở góc rẽ cầu thang thoát hiểm. “Hạ San, đứng lại! Em trốn chạy cái gì?”
Cô vùng vằng, cười một nụ cười chua chát thê lương: “Buông tôi ra! Ồ, không, tôi phải gọi anh là vị anh hùng cõi âm mới đúng chứ. Chúc mừng anh đã phục sinh một cách ngoạn mục. Chúc mừng anh đã rũ bỏ được thứ rác rưởi như tôi để leo lên chiếc ghế con rể của thủ trưởng.”
“Em nói cái điên dồ gì vậy? Kẻ rũ bỏ là em cơ mà!”
Nghe tôi chất vấn, Hạ San nhìn tôi chằm chằm, nước mắt ngừng rơi, thay vào đó là sự lạnh lẽo đến thấu xương. “Đúng là một màn kịch hoàn hảo. Anh vạch ra cái kịch bản dơ bẩn đó để sỉ nhục tôi sao?” Cô đưa tay chỉ thẳng vào mặt tôi, từng lời nói như những nhát dao đâm nát trái tim tôi. “Anh chê tôi nghèo, anh sợ cưới tôi sẽ cản bước tiến thân của anh nên anh hèn hạ đến mức mượn tay người nhà lên sỉ nhục tôi. Giờ anh lại đứng đây đóng vai kẻ bị phản bội để hỏi tội tôi sao?” Nói xong, cô vung tay tát thẳng vào mặt tôi một cái trời giáng.
Cái tát đó không làm tôi đau. Nó làm tôi bừng tỉnh.
Bức màn rối trá khổng lồ mà mẹ tôi và Thủy Linh đã giăng ra để che mắt cả hai đứa, giờ đây bắt đầu lộ ra những vết nứt chí mạng……………………Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Những ngày sau đó, tôi liên tục tìm đến trung tâm phục hồi chức năng, nhưng Hạ San hoàn toàn cự tuyệt. Cô xin đổi ca, tránh mặt tôi như tránh tà, ném cho tôi những ánh mắt khinh bỉ, sắc lạnh như dao cạo.
Rồi một buổi chiều, một sự kiện kinh hoàng xảy ra đã xé toạc mọi lớp vỏ bọc oán hận. Một vụ cháy lớn bùng lên ở khu chợ cạnh trung tâm. Hạ San, trong bộ đồng phục hộ lý, không chút do dự lao thẳng vào biển lửa để cứu một đứa trẻ bị kẹt. Tôi cũng lao vào sau cô. Trong biển lửa, khi tôi dùng lưng mình hứng một thanh xà gỗ đang cháy để bảo vệ cô và đứa bé, tay tôi vô tình chạm vào vai áo rách toạc của cô. Dưới lớp vải cháy, vết sẹo lớn, lồi lõm sần sùi trên bả vai phải hiện ra trần trụi dưới ánh lửa. Vết sẹo do đá cứa rách trong cái đêm cô trượt ngã đi tìm nước suối để cứu mạng tôi bốn năm về trước.
Tôi quỳ sụp xuống. Mọi oán hận, mọi nghi ngờ về một kẻ tham phú phụ bần tan biến thành tro bụi. Làm sao một người phụ nữ mang trên mình vết sẹo hy sinh này, một người phụ nữ vừa liều mạng lao vào biển lửa cứu đứa trẻ xa lạ, lại có thể là kẻ tham lam, thực dụng? Lời dối trá của mẹ tôi và Thủy Linh dơ bẩn và tàn độc đến mức nào, giờ đây tôi đã thấu hiểu.
Tôi ôm trầm lấy Hạ San giữa đống đồ nát, khói bụi, nước mắt tuôn rơi. “Anh xin lỗi. Bốn năm qua anh đã trách lầm em. Anh bị lừa rồi. Tình yêu của anh dành cho em chưa bao giờ thay đổi.”
Tôi bắt đầu điều tra. Tôi phát hiện Hạ San sống trong một căn phòng trọ chưa đầy 15 mét vuông, đồ đạc sơ sài, không có bất cứ tiện nghi nào. Cô làm hộ lý quần quật từ sáng đến tối. Và cô có một đứa con trai ba tuổi – một cậu bé có khuôn mặt thanh tú, làn da hơi xanh xao, đặc biệt đôi mắt đen láy to tròn sâu thẳm. Ánh mắt ấy, cái mũi cao ấy – tôi nhận ra ngay. Đó không chỉ là sự trùng hợp.
Đứa trẻ chính là con tôi. Giọt máu của tôi.
Sau khi nghĩ tôi đã chết, Hạ San đã một mình sinh con, nuôi con khôn lớn trong sự túng thiếu, chật vật giữa chốn thị thành xa lạ. Cô không hề có gã lái buôn gỗ giàu có nào. Cô chỉ có những đồng tiền lẻ mót được từ công việc hộ lý vất vả, những đêm thức trắng chăm con ốm, và một tấm lòng kiên cường đến đau đớn.
Tôi từ bỏ chiếc xe hơi bóng lộn, cởi bỏ bộ quân phục oai phong. Tôi mặc áo phông bạc màu, quần lao động sờn rách, chân đi dép tổ ong. Tôi biến mình thành một gã thợ điện, thợ mộc lầm lũi nơi xóm trọ. Tôi lẳng lặng sửa lại đường dây điện chập chờn, vá trần nhà dột nát, thông cống thoát nước bốc mùi – tất cả những việc đó tôi làm trong im lặng, không để lại lời khoe khoang. Tôi muốn cô hiểu rằng tôi đến đây không phải để ban phát, mà để làm chỗ dựa thực tế nhất cho hai mẹ con.
Và nhát búa cuối cùng đập vỡ hoàn toàn bức tường cự tuyệt của Hạ San chính là món quà tôi dành tặng cho bé Bo. Tôi dùng gỗ vụn, tỉ mẩn gọt đẽo nhiều đêm liền, hai bàn tay vụng về cứa đứt không biết bao nhiêu lần, để làm ra một chiếc xe Jeep bằng gỗ. Trên nắp capo, tôi khắc hình chiếc vòng cỏ xương khô – biểu tượng tình yêu của chúng tôi.
Khi bé Bo ôm chiếc xe reo lên sung sướng, Hạ San nhìn đôi bàn tay quấn đầy băng gạc của tôi, nhìn chiếc xe gỗ, nhìn đôi giày lấm lem bùn đất của người đàn ông đang đứng trước mặt mình. Tảng băng cuối cùng đã tan chảy. Cô gục đầu vào vai tôi, khóc nức nở, bao nhiêu uất ức, oan khuất, tủi nhục của bốn năm qua vỡ òa trôi theo dòng nước mắt.
Sáng hôm sau, tại phòng họp của Bộ chỉ huy, tôi – Đại úy Hải Uy – mặc bộ quân phục chỉnh tề nhất, bước vào với tờ giấy báo tử giả mạo trên tay. Trước mặt các thủ trưởng cấp cao, trong đó có cha ruột của Thủy Linh, tôi đã vạch trần toàn bộ sự thật. Thủy Linh bị đình chỉ công tác, tước bỏ danh dự, đối mặt với kỷ luật quân đội. Cuộc hôn ước môn đăng hộ đối bị hủy bỏ ngay tắp lự.
Tôi quay về căn phòng trọ nhỏ của Hạ San, mặc lại bộ quân phục chỉnh tề, đeo trên ngực những tấm huân chương. Tôi bước vào, quỳ một chân xuống nền xi măng lạnh ngắt, cầm tay cô. Bốn năm trước, bên đống lửa tàn giữa rừng sâu, tôi đã hứa sẽ quay lại đón cô. Hôm nay, tôi giữ lời.
“San à, gả cho anh nhé. Cho anh được làm chồng em, làm cha của Bo. Anh xin lỗi vì đã để em đợi quá lâu. Tờ báo tử dơ bẩn kia đã đánh cắp của chúng ta bốn năm, nhưng nó không thể đánh cắp được trái tim anh. Anh không có nhẫn kim cương đắt tiền, anh chỉ có một mạng sống đã từng được em nhặt về từ cõi chết. Bây giờ anh xin dùng cả phần đời còn lại để đền đáp em.”
Hạ San vỡ òa. Cô quỳ xuống, ôm trầm lấy tôi. Tôi đội chiếc mũ nồi xanh đặc nhiệm lên đầu con trai. Thằng bé ôm cổ tôi, gọi một tiếng “bố ơi” giòn tan, vang vọng cả xóm trọ nghèo.
Chúng tôi đã đăng ký kết hôn. Tháng sau, một đám cưới giản dị với chiếc váy cưới trắng tinh khôi mà tôi đã ấp ủ suốt bốn năm sẽ được tổ chức. Vết sẹo trên vai Hạ San – tôi sẽ dùng cả đời này để yêu thương và bảo vệ nó.
Tình yêu chân chính, một khi đã được thử lửa bằng máu và nước mắt, sẽ trở nên bất diệt. Và cái ác – dù có ẩn nấp dưới danh nghĩa gia đình hay quyền lực – cuối cùng cũng sẽ bị công lý nghiền nát.





