Đầu tháng 5 năm 2023, tôi đến Vĩnh Long. Trong hồ sơ hành trình, lý do được ghi là khảo sát chương trình y tế cho trẻ em nông thôn. Nhưng trong tim tôi, lý do nằm ở chiếc vòng bạc tôi đeo trong túi áo sơ mi sát tim suốt gần 50 năm. Điểm dừng đầu tiên là tu viện Bình Minh, nơi từng là mái nhà đầu đời của tôi. Một sư cô già tên Teresa Hường ra tiếp tôi: “Mẹ không nhớ nhiều, nhưng đêm hôm đó mưa lớn lắm. Có một cô gái trẻ khóc nhiều, cứ lặp đi lặp lại ‘người ta bắt tôi bỏ nó, tôi không muốn bỏ con’.” Tôi nghẹn lại. Sư cô kể rằng cô gái Đào tay run lẩy bẩy, má trái có một vết sẹo nhỏ, ôm đứa bé đến trước cổng rồi quay đi không ngoảnh lại. Tôi rời tu viện, cho người liên hệ với Ủy ban Nhân dân xã Đông Thành tra cứu hồ sơ cũ. Nhưng chiến tranh, di cư, cải cách ruộng đất khiến hồ sơ thất lạc phần lớn. Tôi đăng một thông báo kín: “Một người con từng mang tên Lê Văn Bảo, sinh năm 1973 tại Vĩnh Long, đang tìm người mẹ tên Đào, có vết sẹo ở má trái. Kỷ vật duy nhất là chiếc vòng bạc khắc ‘Bảo 73 BM’.”.
Cựu phó thủ tướng Đức tìm mẹ ruột ở Việt Nam, Sau Hàng Chục Năm Lưu Lạc Và Cái Kết quá bất ngờ………….
Cựu phó thủ tướng Đức tìm mẹ ruột ở Việt Nam, Sau Hàng Chục Năm Lưu Lạc Và Cái Kết quá bất ngờ………….
Đêm đông ở Geneva lặng lẽ như những dòng sông băng đang trôi qua từng kẽ thời gian. Trong văn phòng tầng năm của tòa nhà kính trụ sở quỹ đầu tư y tế giáo dục GM, ánh đèn vẫn sáng dù đã hơn 11 giờ khuya. Tôi ngồi trước màn hình laptop, tay cầm tách trà thảo mộc đã nguội lạnh. Ngoài trời, tuyết rơi lất phất phủ lên khung cửa kính những vệt mờ trắng nhòe. Tôi là Trần Đức Minh, 50 tuổi, không quen với giấc ngủ sớm. Dù lịch làm việc của tôi luôn được sắp xếp chặt chẽ đến từng phút, nhưng có những đêm như thế này, tôi thấy mình như quay về tuổi thơ, lặng câm, mơ hồ và thiếu một mảnh ghép không thể gọi tên.
Tôi đang soạn bài diễn văn cho hội nghị cấp cao về y tế cộng đồng tại Davos thì một thông báo email bật lên. Dòng tiêu đề bằng tiếng Việt: “Về người đàn bà đã sinh ra ông.” Phần nội dung chỉ có đúng một dòng: “Người đã sinh ra ông sống ở Vĩnh Long. Bà tên là Đào. Bà ấy đã chờ đợi suốt 50 năm.” Tôi sững người. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy cụm từ Vĩnh Long là gần 20 năm trước trong một tờ hồ sơ di chú cũ: “Đứa trẻ gốc Việt được phát hiện trong một thùng giác trước tu viện Công giáo tại xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam. Không có giấy khai sinh, ước đoán sinh năm 1973.” Trái tim tôi đập nhanh bất thường. Tay tôi run lên một chút, không phải vì lạnh mà vì ký ức bỗng nhiên sống dậy như một cuộn phim cũ xước.
Tôi là Trần Đức Minh, tên trên hộ chiếu Đức là Dr. Philip Minh Rosler, từng là một trong những chính trị gia gốc Á nổi bật nhất châu Âu. Tôi từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế Đức khi mới 36 tuổi, rồi lên đến chức Phó Thủ tướng liên bang Đức trong nhiệm kỳ 2011 đến 2013. Sau khi rời chính trường, tôi thành lập quỹ GM tại Geneva, chuyên tài trợ cho các chương trình y tế, giáo dục cộng đồng tại các nước đang phát triển. Bề ngoài tôi có tất cả: một gia đình hạnh phúc ở Wiesbaden, vợ là bác sĩ tim mạch, hai con gái sinh đôi học giỏi. Nhưng sâu bên trong, tôi luôn thấy thiếu một điều gì đó. Một vùng trắng mịt mù trong tâm trí, như một khu vườn bị bỏ hoang chưa một lần được chăm sóc bằng ký ức trọn vẹn. Tôi chưa từng biết mẹ ruột là ai, cũng không rõ mình từ đâu đến. Tôi chỉ biết rằng vào một đêm mùa mưa năm 1973, một đứa bé sơ sinh không tên, chỉ có một chiếc vòng bạc nhỏ khắc ba chữ “Bảo 73 BM” đã được các sơ tại tu viện Bình Minh, Vĩnh Long nhặt được trong thùng giác bên cổng.
Tôi đã sống cả đời với câu hỏi: “Tôi là ai? Tại sao tôi bị bỏ rơi? Mẹ tôi có từng khóc khi đặt tôi vào thùng giác đó? Bà ấy còn sống không?” Email kia không có địa chỉ người gửi, không chữ ký, nhưng đánh trúng vào nơi tôi yếu đuối nhất. Tôi bật dậy khỏi ghế, mở ngăn kéo cũ, nơi tôi vẫn giữ chiếc vòng bạc. Tôi biết mình phải trở lại Việt Nam. Không phải với tư cách một cựu phó thủ tướng, mà là một đứa con đang đi tìm người mẹ chưa từng gọi một tiếng trong đời. Và lần đầu tiên sau 50 năm, tôi thì thầm: “Mẹ ơi, nếu mẹ còn sống, xin hãy chờ con.”
Hồi còn bé, khi tôi mới là cậu bé tên Philip trong gia đình người Đức, tôi thường lẻn vào phòng chứa đồ của cha nuôi. Trong một lần như thế, tôi phát hiện một chiếc hộp gỗ nhỏ. Bên trong là một tấm ảnh đen trắng mờ nhòe, vài tài liệu cũ bằng tiếng Việt và chiếc vòng bạc nhỏ khắc “Bảo 73 BM”. Tôi từng hỏi cha nuôi, ông chỉ khẽ đáp: “Chiếc vòng này từng thuộc về con. Một nữ tu ở Việt Nam đã gửi lại. Họ không có thông tin gì khác, chỉ có món này và một mảnh giấy ghi tên Lê Văn Bảo.” Dù còn nhỏ, tôi vẫn cảm nhận được ánh mắt buồn của cha mỗi lần nhắc đến quá khứ ấy. Không ai trong gia đình nuôi ép tôi quên Việt Nam, nhưng cũng chưa bao giờ khuyến khích tôi tìm lại.
Nhiều năm sau, khi quỹ GM mở văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2022, tôi buộc phải nộp bản sao hồ sơ cá nhân. Nhân viên tại Việt Nam đã tìm được một bản sao biên nhận giao trẻ mồ côi năm 1973, đóng dấu mộc mờ của tu viện Bình Minh: “Ngày 18 tháng 10 năm 1973, ghi nhận một trẻ sơ sinh nam chưa đặt tên, được người phụ nữ không rõ danh tính đặt trước cổng tu viện vào khoảng 2 giờ sáng. Trẻ được quấn trong mảnh khăn thô, tay đeo một chiếc vòng bạc có khắc ‘Bảo 73 BM’. Người giao trẻ cho Sơ Maria tự xưng là người quen với mẹ đứa bé. Theo lời kể, mẹ đứa bé là người tên Đào, khoảng 22 tuổi, sống tại Vĩnh Long, có vết sẹo nhỏ bên má trái, bị ép buộc bỏ con.” Khi cầm tờ giấy đó trong tay, tôi im lặng rất lâu. Tim tôi thắt lại vì đó là mảnh ghép đầu tiên giúp tôi nhìn rõ gương mặt mình trong tấm gương quá khứ.
Sơ Maria, người ký tên trong biên nhận, nay đã hơn 80 tuổi, đang sống tại nhà hưu dưỡng Thánh Clara ở Đồng Nai. Tôi lập tức xin phép đến thăm. Cuộc gặp diễn ra vào một buổi chiều nắng hanh đầu năm 2023. Sơ ngồi trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt đục mờ nhưng vẫn ánh lên vẻ hiền từ. Khi tôi đưa ra chiếc vòng bạc, Sơ Maria khẽ chạm vào, bàn tay gầy guộc run lên: “Đây đúng là vòng của đứa bé ngày đó. Đứa nhỏ da trắng lắm, tóc mỏng như sợi cỏ non. Mẹ từng nghĩ nó sẽ chẳng sống nổi mấy ngày. Vậy mà giờ con ngồi đây.” Tôi nghẹn ngào: “Con muốn biết mẹ con là ai.” Sơ Maria im lặng rồi nói: “Người phụ nữ trao con bảo mẹ đứa bé tên Đào, có vết sẹo nơi má trái. Đêm ấy mưa lớn, bà ấy khóc nhiều, bảo họ bắt cô ấy bỏ con.” Tôi gật đầu, từng chữ như từng giọt nước nhỏ vào mảnh đất khô cằn trong lòng tôi suốt mấy chục năm. Sau cuộc gặp, tôi ngồi suốt một đêm nhìn ra bầu trời không tuyết, không lạnh như Geneva. Như thể quê hương đang thì thầm điều gì đó mà tôi chưa hiểu hết.
Chỉ sau ba ngày, câu chuyện bắt đầu dò rỉ. Báo chí, mạng xã hội đăng tải tin tức. Gia đình tôi ở Đức bắt đầu lo lắng. Vợ tôi gọi điện mỗi ngày: “Minh, em hiểu anh cần biết mình từ đâu đến, nhưng đừng để nỗi ám ảnh đó cuốn anh khỏi gia đình hiện tại.” Tôi hiểu, nhưng tôi không thể quay lại khi chưa biết người đã sinh ra tôi là ai.
Một tuần trôi qua, vẫn không có tin gì ngoài vài người đến nhận là mẹ ruột để xin tiền. Tôi mệt mỏi, có lúc nghĩ đến việc bỏ cuộc. Nhưng đêm đó, nhìn chiếc vòng bạc trên tay, tôi tự hỏi: “Nếu mẹ tôi vẫn sống và bà chỉ mong một lần được nhìn thấy tôi thì sao?” Rạng sáng hôm sau, tôi quyết định quay lại ấp Đông Hòa, đi từng nhà, gặp từng người cao tuổi, hỏi về cái tên Đào. Và ở cuối con đường đất ven rạch, trong một căn nhà nhỏ mái tôn, có một bà cụ hơn 70 tuổi đang nhặt rau, má trái lấp ló một vết sẹo mờ………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Buổi sáng hôm đó, trời âm u. Tôi bước xuống xe, băng qua con hẻm đất lầy lội. Phía cuối con đường, bà cụ đang ngồi nhặt rau, chậm rãi và im lìm. Khi tôi cúi đầu chào, đôi mắt bà khựng lại, dường như linh cảm của người mẹ dù đã ngủ yên hơn nửa thế kỷ vừa bừng tỉnh. “Chào bà, tôi là người đang tìm một người phụ nữ tên Đào, khoảng 73 tuổi,” tôi nói bằng tiếng Việt lơ lớ. Bà cụ gật đầu: “Bà tên Đào, còn chú là ai?” Tôi rút từ túi áo ra chiếc khăn len đã ngả màu. Bà Đào bỗng dừng lại, đôi tay nhăn nheo bưng lên miệng, mắt rưng rưng khi nhận ra món đồ bà từng đan cho đứa con trai chưa từng được ẵm trong vòng tay.
Một giờ sau, họ ngồi đối diện nhau trong căn nhà đơn sơ. Trên bàn là một bức thư nhàu nát. Bà Đào đưa tay lau nước mắt: “Người ta nghĩ tôi là giúp việc, nhưng thật ra tôi là con út trong một gia đình chủ tiệm vải lớn ở Vĩnh Long. Năm 1972, tôi yêu một anh lính chế độ cũ. Cha tôi phản đối, nhốt tôi trong phòng 3 tháng. Khi biết tôi mang thai, ông nổi giận, không cho tôi giữ con.” Bà rút từ ngăn kéo một tờ giấy bạc cũ là bản chụp chứng từ viện phí sinh con năm 1973. “Ngày tôi sinh trời mưa rất to. Dì Huyền ôm con đi, tôi chỉ kịp hôn lên trán nó một cái. Tôi xin lỗi con.” Tôi không nói gì, đứng dậy, vén cổ áo sơ mi. Sau gáy tôi, thấp bên trái là một vết bớt hình giọt nước. Bà Đào bật khóc thành tiếng, chạm tay lên vết bớt ấy như đang chạm vào quá khứ.
Ba ngày sau, tôi sắp xếp đưa bà lên Sài Gòn làm xét nghiệm ADN. Kết quả: trùng khớp 99,98%. Tôi bước ra hành lang, quỳ xuống trước bà. Trong cơn mưa chiều Sài Gòn, một người đàn ông hơn 50 tuổi từng điều hành quốc gia gục đầu vào lòng một bà mẹ già run rẩy. Bà run rẩy chạm vào mặt tôi: “Là con Bảo hả con?” Tôi nắm lấy tay bà: “Phải rồi mẹ, con là Bảo đây. Con của mẹ đã về rồi.”
Những ngày sau đó, tôi thuê một căn nhà nhỏ gần Rạch Ô Môn. Mỗi sáng, tôi cùng mẹ ra chợ. Bà dạy tôi cách phân biệt rau muống, cách chọn cá lóc tươi, cách nấu canh chua. Tôi lần đầu tiên ăn bữa cơm quê thật sự: cơm trắng, rau luộc, nước mắm tỏi ớt. Một tối, tôi viết vào sổ tay: “Ngày thứ 15 bên mẹ, lần đầu tiên tôi ngủ ngon mà không cần thuốc.” Trước ngày về Đức, mẹ tôi đưa tôi một chiếc khăn len mới bà tự đan. Vẫn màu xám nhạt như khăn cũ, nhưng lần này dài hơn, dày hơn, đính một nhành hoa cúc trắng. “Ngày xưa mẹ không kịp quàng khăn cho con, nay mẹ đan lại cho đủ vòng mẹ con.” Tôi ôm lấy khăn nghẹn ngào: “Con sẽ mang nó về Đức và mỗi lần quàng, con sẽ nhớ con là người có mẹ.”
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, đúng dịp lễ Vu Lan, tôi nhận cuộc gọi từ Việt Nam: “Dạ ông Minh, bà cụ nhà ông mất rồi, sáng nay ngủ không dậy nữa.” Tôi không nói được gì. Ba ngày sau, tôi có mặt tại Việt Nam. Di cốt của bà Đào được đặt trong một chiếc hũ gốm màu đất nung. Trong bức thư di chúc để lại, bà dặn: “Mẹ chỉ muốn được nằm dưới gốc cây gạo, nơi có đất, có gió, có con nít cười nói.” Sáng an táng, tôi mặc áo dài lam, tay ôm bình tro. Cùng đi với tôi là vợ và hai con gái. Hai cô gái trẻ rưng rưng thắp nén nhang đầu tiên và khẽ gọi: “Ngoại ơi.” Trên bia đá chỉ vỏn vẹn: “Lê Thị Đào, 1951–2024, một người mẹ, một người chờ.” Hàng năm, đúng rằm tháng Bảy, tôi về Việt Nam, lặng lẽ thắp nhang và ngồi hàng giờ trước phần mộ mẹ, kể chuyện đời mình cho bà nghe.
Tôi cho thành lập quỹ học bổng “Đào Hạnh” – Đào là họ, Hạnh là đức hạnh bà đã sống cả đời. Quỹ tài trợ 100 suất học bổng mỗi năm cho nữ sinh mồ côi ở miền Tây Nam Bộ. Mỗi học sinh nhận được một lá thư tay động viên do chính tôi viết. Năm 2025, tôi diễn thuyết tại TEDx Geneva với chủ đề “Legacy and Origin”. Tôi bắt đầu: “Năm tôi 50 tuổi, tôi mới biết ai là mẹ mình. Tôi từng nghĩ mình là đứa trẻ bị bỏ trong thùng giác. Tôi lớn lên trong một gia đình tốt, nhưng tôi vẫn mang một khoảng trống ở gốc rễ. Mãi đến một ngày, tôi trở về Việt Nam, tìm được mẹ – một bà cụ nghèo sống bên bờ sông, không biết đọc, không biết viết, nhưng biết đợi. Bà đợi tôi suốt 50 năm.” Khán phòng im lặng. “Tôi là Trần Đức Minh, và mẹ tôi là Lê Thị Đào, người đã sinh ra một điều kỳ diệu mà chính bà chưa từng hay biết.”
Khi được hỏi có hối hận vì tìm mẹ muộn không, tôi đáp: “Không, vì chúng tôi không cần cả đời để ở bên nhau. Chúng tôi chỉ cần vài tháng để biết rằng tình mẫu tử không có hạn sử dụng. Nó chỉ cần được chạm một lần là đủ, đầy mãi mãi.” Và có lẽ không ai sinh ra là bị bỏ rơi. Chỉ là họ đang chờ được tìm lại. Giống như tôi, giống như bà Đào. Đừng để quá muộn mới bắt đầu hành trình tìm về nguồn cội, vì đôi khi chỉ cần một câu hỏi thành thật – “Mẹ ơi, con là con của mẹ phải không?” – cũng có thể cứu vãn cả một đời chờ đợi.
Bài viết mới cập nhật:
- Hóc hạt nhãn, bé gái 2 tuổi t.ử v..ong!
- CҺặп пҺầm xe và cáι kết….
- Ông ơi, sáng nào các em của dì ghẻ cũng được ăn trứng, còn con chỉ được bà ta cho ăn cơm chan nước mắm, đến hôm nay qua con mệt ng-ất giữa lớp
- Nhà Thuốc Long Châu – Địa điểm h:ot nhất lúc này: Không ngờ lại làm ra chuyện như vậy
- Xuất Һιệп troпg lễ dιễu ЬιпҺ tạι Nga, cҺàпg traι Vιệt gȃү sṓt… cáι kết kҺιếп aι cũпg Ьất пgờ!”
- Trên m/ộ của người anh trai mất trẻ lúc nào cũng có hoa tươi, nhà tôi s-ợ h/ãi liền lắp camera theo dõi thì ngỡ ngàng 10 ngày chẳng thấy gì cho bất thường, cho đến ngày thứ 11 thì bẽ bàng chứng kiến được cảnh tượng..
- Vợ chồng hiếm muộn nuôi đứa trẻ bị bỏ rơi, 18 năm sau bàng hoàng khi biết thân phận của con
- Tại sao người xưa lại nói: ‘Nhất gái lông tay, nhì trai lông bụng’?
Chia sẻ bài viết:





