Đi lấy chồng xa để trả nợ cứu bố, tôi không ngờ mình phải hầu cả bảy người đàn ông và mất tất cả…..
Tôi quỳ giữa nhà, trước mặt sáu người đàn ông, tay nắm chặt mảnh giấy xé từ vở học trò. Chữ em gái tôi to, xiêu vẹo, đè cả lên dòng kẻ: “Bố mất rồi chị ơi. Mất hôm 23. Cả nhà chờ chị mà không có tin.”
Tôi nói bằng mấy chữ ít ỏi học lỏm được: “Bố con chết rồi. Cho con về. Mười ngày thôi. Con quay lại.”
Cái quạt trần kêu cót két một cánh. Bố chồng tôi xỉa răng xong mới chậm rãi lên tiếng. Không ai dịch, nhưng tôi hiểu từng chữ: “Vé máy bay bằng mấy tạ thóc. Ruộng chưa gặt xong. Người chết thì cũng chết rồi, mày về ông ấy có sống lại được đâu.”
Tôi quay sang chồng. Anh ngồi ở góc phản, cúi gằm, lấy móng tay cạo một vết bẩn trên đầu gối quần. Anh cạo mãi, từ lúc tôi quỳ xuống đến lúc tôi đứng lên, không ngẩng đầu lấy một lần.
Đêm ấy, sau chuồng lợn, tôi xếp ba viên gạch làm bàn thờ cho bố, trải lên trên chiếc khăn tay bố đưa tôi ngày ra sân bay. Chiếc khăn đã ố vàng vì bùn, vì một chuyện mà đến giờ tôi vẫn không dám nhớ trọn.
Tôi đã đi để cứu bố. Cuối cùng, tôi không được nhìn mặt bố lần cuối.
Năm ấy tôi hai mươi ba tuổi. Bố tôi ho từ mùa ngô sang mùa gặt, đi khám người ta bảo lao phổi, phải chữa dài. Nhà bán lợn, bán thóc, rồi vay. Mẹ kẹp mấy tờ giấy nợ dưới lọ muối trên chạn bát, tưởng tôi không thấy. Tôi thấy. Cảm giác ấy không giống buồn. Nó giống như ai đặt lên vai mình một bao thóc rồi bảo cứ đứng thế, đừng đặt xuống.
Rồi bà mối làng bên đến, phe phẩy cái nón: “Bên ấy nhà người ta khá, có máy cày, con trai lớn hiền lành. Sang đó sướng lắm, đàn bà không phải lội ruộng như mình đâu.” Tôi co chân giấu vào gầm ghế, vì bàn chân vẫn còn dính bùn khô. Bà nói đến khoản tiền nhà trai gửi. Tôi nhẩm con số trong quyển sổ nợ bìa xanh. Vừa đủ.
Mẹ tôi khóc ba đêm, quay mặt vào tường: “Nợ thì mẹ cày mẹ trả, mẹ không bán con.” Tôi nói dối là con thích đi cho biết đó biết đây.
Ở sân bay, bố móc túi đưa tôi chiếc khăn tay cũ, một góc vá bằng chỉ trắng trên nền vải nâu. “Cầm lấy mà lau. Bên ấy lạ nước lạ cái.” Tôi đi thẳng vào trong, không quay lại. Tôi sợ quay lại thì không đi được nữa.
Giá mà hôm ấy tôi quay lại.
Bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, tôi đứng ở cửa bếp đếm đi đếm lại. Bảy cái bát. Bố mẹ chồng, chồng tôi, và bốn người em trai chưa ai có vợ, đứa út mới mười sáu. Tôi nghĩ chắc có khách. Hôm sau vẫn bảy cái bát. Cả nhà ăn im như tờ. Ai lỡ cười to, bố chồng gõ đầu đũa xuống mép mâm một cái, cốc, thế là im bặt.
Ngay hôm đầu, mẹ chồng lấy thước dây vòng qua bụng, qua hông tôi, ấn ấn vào ngang lưng như người ta chọn lợn giống ngoài chợ, rồi gật đầu với chồng bà. Tôi tưởng bà đo để may áo. Mười năm, tôi chưa nhận được cái áo nào.
Trong buồng bố chồng có một cái hòm sắt sơn xanh, khóa hai lần khóa. Ngày mới sang, chính tay tôi đã đưa ông hộ chiếu, hai tay hẳn hoi, vì bà mối dịch rằng ông giữ hộ cho khỏi mất. Cái hòm nhà tôi ở quê cất sổ đỏ. Còn cái hòm ấy cất cả tôi ở trong.
Tuần thứ ba, bà mối quay lại. Cả nhà ngồi kín phản. Bà dịch đều đều như đọc giá hàng: “Từ nay cháu là dâu trưởng. Cơm nước, giặt giũ, lợn gà, đồng áng một tay cháu lo, cho cả bố mẹ chồng và bốn chú em. Nhưng trên hết, cháu phải đẻ con trai. Nhà này ba đời độc đinh. Bố chồng cháu bỏ tiền ra là vì việc ấy.”
“Thế nếu cháu đẻ con gái?”
Bà cười như nói chuyện thời tiết: “Thì đẻ nữa chứ sao.”
Tôi đứng bật dậy, cái ghế đổ đánh rầm. Tôi hét bằng tiếng Việt rằng tôi là vợ, không phải người ở. Rồi tôi quay sang chồng, chờ một câu, chỉ một câu thôi. Anh cúi nhìn nền gạch hoa mà ngày nào tôi cũng quét. Gáy anh mới cắt tóc, trắng một vệt. Tôi nhìn cái đỉnh đầu ấy và hiểu rằng mình xong rồi.
Đêm đó tôi dốc ngược túi xách. Rơi ra cái lược, gói kim chỉ của mẹ, chiếc khăn của bố. Ngăn đựng hộ chiếu trống trơn.
Năm thứ ba tôi có thai. Ngoài việc không phải gánh nước giếng, mọi thứ vẫn y nguyên. Mẹ chồng bảo đàn bà càng làm càng dễ đẻ. Tháng thứ sáu, mưa dầm mấy hôm, mấy bao ngô ngoài lán sợ ướt. Đàn ông đi vắng, mẹ chồng đau lưng nằm trong buồng. Tôi trùm áo mưa nilon, đội chiếc nón lá mang từ quê sang, ôm từng bao ngô trước bụng đi qua bờ ruộng nhão bùn.
Chuyến thứ tư, bờ đất lở dưới chân. Tôi ngã sấp, bụng đập xuống. Tôi nghe rõ tiếng chiếc nón gãy đôi dưới người mình.
Mặt áp vào bùn, mùi rơm ướt chua ngai ngái, mưa rơi ràn rạt trên lớp nilon. Rồi cơn đau đến, sâu trong bụng, thắt lại từng cơn. Tôi gọi “Mẹ ơi” bằng tiếng Việt, mọi chữ học được bay đâu hết. Nhà cách trăm mét, cửa đóng, mưa át tiếng. Tôi tự bò về bằng hai bàn tay và hai đầu gối.
Mẹ chồng ra cửa, nhìn tôi bê bết bùn. Câu đầu tiên bà hỏi: “Cái bao đâu?”
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
👇👇👇
Tối hôm đó, ở viện huyện, con tôi ra đời khi mới sáu tháng tuổi trong bụng mẹ. Người ta không cho tôi nhìn. Tôi chắp tay xin cô y tá, cô lắc đầu. Tôi nắm chiếc khăn của bố ướt sũng bùn suốt đêm. Sáng ra nó khô cứng, vò mãi vẫn còn vệt vàng. Mẹ chồng lên một buổi, mang theo cặp lồng cơm nguội: “Nằm đây một ngày tốn bao nhiêu tiền, khỏe thì về.” Ba hôm sau tôi về, đi thẳng xuống bếp nấu cơm. Củi ẩm, khói xông, nước mắt tôi cứ chảy. Ai hỏi thì bảo tại khói.
Chưa đầy ba tuần sau, mảnh giấy của em gái tôi đến. Đó là lý do tôi quỳ giữa nhà. Đó là lý do có ba viên gạch sau chuồng lợn. Bốn mươi chín đêm, tôi thắp đúng một que nhang, che bật lửa trong lòng bàn tay cho khói ít, lấy hòn than vạch lên tường mỗi đêm một vạch. Có đêm tôi đứng rất lâu bên bờ ao nhà bên, nhìn mặt nước đen lặng, chẳng nghĩ gì. Rồi trong bụng tôi nhói lên một cái. Tôi lại có thai.
Lần này tôi giấu gần bốn tháng, và tôi sinh con trai. Bố chồng đứng ngoài hành lang gọi điện về quê: “Có rồi, có rồi.” Không ai hỏi tôi có đau không. Khi tôi buột miệng xin cho thằng bé về thăm ông bà ngoại, ông đặt bát xuống: “Mày muốn đi đâu thì đi. Thằng bé là người của nhà này.” Trước, người ta giữ tôi bằng hộ chiếu. Giờ người ta giữ tôi bằng chính con tôi, và sợi dây ấy chặt hơn nhiều.
Tôi học tiếng theo con, viết vào mặt sau vở tập viết của nó dưới bóng đèn vàng đầy muỗi. Đến khi nghe hiểu, tôi nghe được cả những câu họ bàn về tôi ngay trước mặt: “Nó có con rồi, đi đâu được.” Tôi vẫn rửa bát. Nhưng tôi bắt đầu nhớ giờ xe buýt ra huyện.
Năm thứ bảy, ở chợ huyện, tôi nghe một chị bán quần áo trẻ con nói điện thoại bằng tiếng Việt. Bảy năm rồi tôi mới nghe lại tiếng mẹ đẻ. Chị nhìn tôi, hiểu ngay, nhét vào tay tôi cái áo có ghim số điện thoại ở cổ. Chị dặn: nhớ tên bà mối, giữ giấy khai sinh của con.
Năm ấy mất mùa. Ngân hàng đến kéo máy cày đi, để lại hai vệt bánh trên sân gạch. Con lợn nái cũng bán. Gần Tết, chị bán quần áo chạy qua mấy hàng cá, tuột cả một chiếc dép, nắm chặt cổ tay tôi: “Mẹ em ốm nặng, nằm viện tỉnh rồi. Lần này em phải về. Không về là ân hận cả đời.”
Bữa tối đó, tôi đứng ở đầu mâm, nói bằng tiếng của họ: “Mẹ con ốm nặng. Con xin về.” Mẹ chồng bảo tiền đâu, mà có đi thì đi một mình, thằng bé ở lại. Tôi buông cái muôi xuống mâm. Lần đầu tiên trong mười năm, tôi không còn sợ: “Con đi thì con mang con đi.”
Có tiếng ghế đẩy.
Là chồng tôi. Người đàn ông mười năm chỉ biết nhìn xuống đất, giờ đứng thẳng: “Đủ rồi bố ạ. Đủ rồi mẹ ạ. Mười năm cô ấy dậy từ bốn giờ sáng. Cô ấy mất một đứa con ngoài ruộng. Bố cô ấy chết, cô ấy không được về. Nhà mình còn định lấy nốt cái gì của cô ấy nữa?”
Bố chồng đập tay xuống mâm, bát canh sánh ra chiếu. Anh không lùi. Anh vào buồng, mang ra một túi vải đầy tiền lẻ buộc dây chun, tiền anh dành dụm từng đồng ở lò gạch suốt mấy năm, không dám nói với ai. “Anh nợ em cả tuổi thanh xuân.”
Tôi ngồi thụp xuống chiếu. Mười năm chờ một câu bênh vực, đến khi nghe được, tôi không khóc nổi. Rồi thằng em út, đứa mười sáu tuổi ngày nào, đứng dậy cúi đầu: “Chị ơi, em xin lỗi. Ngày trước em ăn cơm chị nấu mà coi như đó là việc chị phải làm.” Lúc ấy nước mắt tôi mới rơi.
Bố chồng ngồi rất lâu, đến khi cơm nguội hết. Rồi ông vào buồng. Tôi nghe tiếng chìa khóa, nghe bản lề cái hòm sắt rít lên, cái tiếng mười năm tôi chỉ nghe từ ngoài cửa. Ông đặt lên mâm quyển hộ chiếu bạc màu, quăn góc. “Cầm lấy.” Rồi ông ra ngồi ở thềm suốt đêm.
Tôi mở ra. Trong ảnh là cô gái hai mươi ba tuổi tóc dài, mặc chiếc áo sơ mi trắng mượn của em gái. Tôi nhìn mãi mà không nhận ra mình.
Tôi về kịp. Mẹ thở bằng ống, người bé lại chỉ còn một nhúm, nhưng mẹ mở mắt nhìn tôi, bàn tay giơ lên được một chút rồi rơi xuống. Hai mươi mốt ngày trong viện, tôi bón cháo, lau người cho mẹ. Đó là những ngày tôi thấy mình sống đúng nhất trong mười mấy năm. Mẹ qua được.
Tôi dắt con ra mộ bố, đặt chiếc khăn tay đã giặt sạch, là phẳng lên bia đá. Thằng bé chắp tay, tiếng Việt chưa sõi, gọi “ông ngoại” thành “ông ngại”. Tôi quay mặt ra phía ruộng.
Năm ngoái, nhà chồng sang. Mảnh đất tổ tiên ông giữ bằng mọi giá, cuối cùng ngân hàng cũng lấy. Ông ngã, méo một bên mặt, giờ phải chống gậy. Giữa sân nhà tôi, ông buông gậy, vịn vai vợ, cúi đầu nói ngọng: “Tôi có lỗi với con.” Mẹ chồng quỳ xuống sân gạch. Mẹ tôi chạy ra đỡ, hai bà già không hiểu tiếng nhau ôm nhau mà khóc.
Tôi mổ gà mời cơm. Bảy người quanh một mâm. Giữa bữa, hai bà lại khóc. Con trai tôi chạy sang, một tay nắm tay bà nội, một tay nắm tay bà ngoại: “Hai bà đừng khóc nữa, mình là người một nhà mà.” Chẳng ai dạy nó câu ấy.
Tôi tha thứ thật. Nhưng tôi không sang lại.
Giờ tôi bán hàng khô ngoài chợ huyện, sáng dọn hàng, chiều đón con. Đồng tiền tôi tiêu là tay tôi làm ra. Chỉ có một điều tôi chưa bỏ được: mỗi khi ai đó vô tình gõ đầu đũa vào cạnh mâm, tôi vẫn giật mình, vẫn ngẩng lên như tìm bảy cái bát úp ngược.
Và có những đêm, tôi lấy quyển hộ chiếu cũ ra, nhìn cô gái tóc dài trong ảnh. Tôi muốn nói với cô ấy rằng hôm ở sân bay, cô hãy quay lại nhìn bố một lần.
Chỉ một lần thôi.





