Sau Trận Bão Tuyết Khắc Nghiệt Ở Mông Cổ, Người Đàn Ông Việt Trở Thành chồng của bốn cô gái mông cổ khiến cả làng s;ốc….

Sau Trận Bão Tuyết Khắc Nghiệt Ở Mông Cổ, Người Đàn Ông Việt Trở Thành chồng của bốn cô gái mông cổ khiến cả làng s;ốc….
Tôi tỉnh dậy giữa bốn người phụ nữ lạ, trong căn lều da thú giữa thảo nguyên Mông Cổ trắng xóa tuyết.
Cơn đau nhói như búa bổ vào đầu khiến tôi ho sặc sụa, cố mở mắt. Mùi lông cừu ấm nồng, khói lửa thoang thoảng lẫn với vị đắng của thảo dược khiến tôi buồn nôn. Bốn khuôn mặt phụ nữ đang cúi xuống nhìn tôi, ánh lửa vàng vọt chiếu lên những đường nét cao ráo, mạnh mẽ. Một bàn tay mát lạnh đặt lên trán tôi, giọng thì thầm bằng tiếng Nga pha Mông Cổ: “Anh đừng cử động… anh suýt chết rồi.”
Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung. Tôi tưởng mình đã chết. Tôi tưởng sau tất cả những đau khổ ở Việt Nam, trời cuối cùng cũng cho tôi được an nghỉ. Nhưng không. Tôi vẫn còn sống, và sống trong một cơn ác mộng ngọt ngào nhất mà tôi từng biết.
Tôi tên là Khánh, năm nay 50 tuổi. Cách đây ba ngày, tôi lái chiếc bán tải cũ kỹ, mua lại bằng toàn bộ số tiền ít ỏi còn sót sau cuộc ly hôn thảm hại, chạy xuyên qua vùng đất hoang vu của Mông Cổ. Ở Việt Nam, tôi đã mất tất cả. Vợ cũ cãi nhau suốt 10 năm vì tiền, vì nhà, vì tôi không đủ giỏi để cho con cái một tương lai sáng sủa. Cuối cùng cô ấy đòi ly hôn, giành hết nhà cửa, xe cộ, thậm chí cả hai đứa con cũng quay lưng với tôi vì bị bà ngoại xúi giục. Những đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi ngồi trong căn phòng trọ ẩm mốc 2 triệu đồng/tháng, nhìn những tin nhắn con trai gửi: “Bố đừng liên lạc nữa, con xấu hổ vì bố.”
Tôi quyết định đi. Không mục đích, không kế hoạch. Chỉ muốn chết lặng lẽ ở một nơi nào đó xa xôi.
Nhưng bão tuyết ập đến như định mệnh. Xe lật, đầu tôi đập mạnh vào vô lăng, máu chảy ấm nóng xuống cổ. Cửa kẹt cứng. Tôi nằm đó, lạnh cóng, nghĩ rằng đây là kết thúc. Tôi nhớ mùi bệnh viện ở Việt Nam khi mẹ tôi mất vì ung thư, nhớ tiếng khóc của vợ cũ ngày chia tài sản, nhớ ánh mắt khinh miệt của anh em tôi khi họ nói: “Mày thất bại rồi, đừng về nữa.”
Rồi tôi ngất đi.
Họ đã cứu tôi. Bốn chị em – những bóng dáng quấn khăn choàng da thú, dám băng qua bão tuyết chỉ vì nghe tiếng xe lật cách lều họ vài cây số.
Khi tôi tỉnh hẳn, tôi nằm trong căn lều tròn làm bằng da cừu. Người chị cả tên Đêm, ánh mắt nghiêm nghị như nữ thủ lĩnh, chỉ ngồi im lặng quan sát tôi. An – người thứ hai – dịu dàng, đôi mắt như suối nước, ngày nào cũng sắc thuốc cho tôi. Sa – cá tính, lúc nào cũng đeo dao găm bên hông, cười lớn khà khà khi thấy tôi ngã. Tuya – út – ít nói, hay ngồi bên lò sưởi đọc kinh cầu nguyện cho tôi bằng giọng thì thầm ấm áp.
Những ngày đầu tôi yếu đến mức không tự ngồi dậy nổi. An thay băng cho vết thương trên vai tôi mỗi tối. Ngón tay cô ấy chạm vào da thịt tôi, tôi run lên vì vừa đau vừa… một cảm giác lạ lùng. Sa dẫn tôi ra ngoài tập đi giữa tuyết trắng, giọng cô ấy vang vọng: “Người Việt Nam yếu quá! Cố lên chứ!” Tuya lặng lẽ mang đến bát trà sữa muối nóng hổi, vị mặn mặn ngọt ngọt lan tỏa trong miệng tôi như hơi ấm của sự sống. Đêm thì ngồi ngoài lều, nhìn dãy núi xa xăm, như đang đấu tranh với chính mình.
Tôi bắt đầu giúp họ việc nhà để bù đắp. Gom củi, vắt sữa cừu, học cách làm khô thịt gió. Buổi tối, cả năm người quây quần bên lò lửa. Họ hát dân ca Mông Cổ bằng giọng trầm ấm, tôi kể chuyện Việt Nam bằng tiếng Nga bập bẹ. Tôi kể về Sài Gòn oi bức, về những bữa cơm gia đình ngày xưa còn đầy đủ, về nỗi đau khi mất hết chỉ trong một năm. Lần đầu tiên sau bao năm, tôi cảm thấy mình được cần đến, được lắng nghe.
Nhưng sâu thẳm, tôi biết mình chỉ là khách. Khi tuyết tan, tôi sẽ phải đi. Tôi không xứng đáng ở lại.
Một buổi tối tuyết rơi dày đặc, Đêm ngồi bên tôi ngoài lều. Gió lạnh buốt cắt da cắt thịt. Cô ấy nhìn tôi rất lâu, ánh mắt như xuyên thấu tâm can: “Anh không giống những người đàn ông khác. Anh đến đây không phải để lấy gì.” Cô đưa cho tôi con dao cán khắc hình sói: “Bây giờ anh là một phần của gia đình.”
Từ đó, mọi thứ thay đổi. An hay chạm tay tôi khi đưa trà, ngón tay cô ấy dừng lại lâu hơn một chút. Sa trêu tôi bằng cách buộc dây ngựa lạc hướng, rồi cười ngặt nghẽo khi tôi ngã, nhưng ánh mắt cô ấy lại đầy lo lắng khi tôi đau. Tuya ngồi sát bên tôi mỗi đêm, lắng nghe tôi đọc thơ tiếng Việt, đôi khi tôi thấy nước mắt cô lặng lẽ rơi. Tôi bắt đầu rối bời. Không phải chỉ một người. Mà là cả bốn.
Tôi sợ. Sợ mình đang phản bội chính nỗi đau ở Việt Nam. Sợ mình không xứng đáng với tình cảm này. Đôi khi nằm một mình, tôi khóc thầm, nước mắt nóng hổi lăn dài trên má, ký ức về hai đứa con ở Việt Nam ùa về như sóng dữ. Chúng sẽ nghĩ gì nếu biết bố chúng đang ở đây, giữa bốn người phụ nữ xa lạ?…………..Sáng hôm ấy…………
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
Sáng hôm ấy, tuyết bắt đầu tan, cha của họ – trưởng làng – trở về. Ông cưỡi ngựa, gương mặt lạnh như gió thảo nguyên. Nhìn thấy tôi, ông cau mày, giọng trầm thấp đầy uy quyền: “Người nước ngoài phải đi khi tuyết tan.”
Tôi gật đầu, lặng lẽ thu dọn đồ đạc. Tim tôi đau thắt. Chỉ trong vài tuần, tôi đã gắn bó với nơi này hơn cả 20 năm ở Việt Nam. Nhưng tôi không muốn gây rắc rối cho họ.
Rồi An bước tới, giọng run run nhưng kiên quyết: “Cha, anh ấy không chỉ là khách.” Sa nắm chặt cán dao, mắt long lên: “Con cũng muốn anh ấy ở lại.” Tuya lặng lẽ nắm lấy tay tôi, bàn tay nhỏ bé lạnh run. Và Đêm – chị cả – nhìn thẳng vào mắt cha mình: “Anh ấy là người mà bốn chị em con đều chọn.”
Cả lều im bặt. Không khí nặng nề đến mức tôi nghe rõ tiếng tim mình đập. Trưởng làng nhìn tôi như nhìn một kẻ phạm tội giữa thảo nguyên rộng lớn.
Đêm hôm ấy, hội trưởng lão được triệu tập. Lửa cháy bập bùng, khói cay xé mắt. Trưởng làng tuyên bố rõ ràng: “Luật tổ tiên chỉ cho phép một người vợ. Nếu anh muốn ở lại, phải chọn một. Không thì đi trước khi trời sáng.”
Tôi không ngủ được. Ra ngoài quỳ giữa tuyết, gió lạnh buốt thấu xương, nước mắt rơi lẫn với tuyết trắng. Tôi khóc như đứa trẻ: “Trời ơi, sao lại để con gặp họ lúc này… Con đã mất hết ở Việt Nam rồi, giờ lại phải chọn giữa bốn trái tim?”
Sáng hôm sau, tôi mặc bộ đồ cũ kỹ, định lặng lẽ rời đi mà không dám nhìn ai. Nhưng khi bước ra cửa lều, bốn chị em đã đứng chờ tôi. Đêm đi đầu, giọng trầm nhưng kiên định đến run người: “Nếu anh đi, cả bốn chúng tôi sẽ đi theo.”
Cả làng xôn xao. Có tiếng phản đối, có người lắc đầu, có người quay đi không nỡ nhìn. Rồi bà lão keeper truyền thuyết bước ra, giọng run rẩy kể về huyền thoại cổ: Người đàn ông vượt qua bão tuyết trắng và được bốn linh hồn cứu sống, là người được trời chọn để kết nối, không phải chia rẽ.
Trưởng làng im lặng rất lâu. Gió thổi qua thảo nguyên như đang thì thầm. Cuối cùng ông nhìn tôi, ánh mắt sâu thẳm: “Ngươi có dám gánh cả bốn trái tim không?”
Tôi quỳ xuống trước mặt họ, giọng nghẹn ngào: “Tôi không xứng đáng. Tôi từng là kẻ thất bại ở Việt Nam, mất vợ, mất con, mất nhà cửa. Nhưng nếu các người chấp nhận một kẻ lạc loài như tôi, tôi xin ở lại cả đời để xứng đáng với tình yêu này.”
Làng tổ chức lễ “Giao ước bão trắng” chưa từng có tiền lệ. Bốn chị em mặc váy cưới truyền thống, đầu đội lông cáo trắng, tay cầm cành tuyết hoa. Không nhẫn vàng, không giấy tờ, chỉ có lời thề dưới bầu trời bao la và ngọn lửa thiêng. Tôi quỳ trước từng người, nhận khăn họ trao. Tiếng đàn morin khuur vang lên buồn da diết mà ấm áp lạ thường.
Từ đó, tôi không còn là khách. Tôi là chồng của bốn người phụ nữ thảo nguyên.
Chúng tôi có căn lều riêng. Mỗi sáng An rót trà sữa cho tôi, Tuya hát ru bằng giọng ngọt ngào, Sa dạy tôi cưỡi ngựa và cười vang khi tôi vẫn còn vụng về, Đêm ngồi bên tôi nhìn núi, bàn tay cô ấy nắm chặt tay tôi như sợ tôi biến mất. Họ không ghen tuông. Họ đã có giao ước với nhau từ rất lâu.
Hai năm sau, chúng tôi có những đứa con. Bé gái đầu lòng giống Đêm mạnh mẽ, bé trai với An dịu dàng… Chúng gọi tôi bằng cái tên nửa Việt nửa Mông – “Aba”. Tôi dạy chúng vài câu tiếng Việt: “Con yêu bố”, “Gia đình là tất cả”. Chúng dạy tôi cách lắng nghe tiếng gió thảo nguyên.
Có lúc đoàn làm phim Pháp đến quay. Thế giới bàn tán, chỉ trích, ngưỡng mộ. Có người ở Việt Nam cũ tìm ra tôi, nhắn tin chửi, có người khen. Nhưng với chúng tôi, chẳng quan trọng. Chúng tôi sống bằng trái tim.
Giờ tôi đã hơn 52 tuổi. Mỗi sáng thức dậy giữa bốn người vợ và lũ trẻ, nghe tiếng cừu kêu xa xa, mùi trà sữa lan tỏa, tiếng cười khẽ của các con, tôi biết mình đã tìm thấy thứ mình từng tưởng mất mãi mãi.
Tôi từng mất tất cả ở Việt Nam. Nhưng giữa bão tuyết Mông Cổ, tôi tìm lại được gia đình – theo cách không ai ngờ tới.
Đôi khi, cuộc đời đưa ta đến những ngã rẽ kỳ lạ nhất. Và nếu may mắn, ta sẽ gặp được những con người sẵn sàng ở lại bên ta, dù cả thế giới có nói gì đi nữa.
Tôi không hối tiếc. Chỉ đôi khi, trong những đêm lạnh, tôi khẽ nghĩ về hai đứa con ở Việt Nam xa xôi. Hy vọng chúng cũng tìm được bình yên như bố chúng đã tìm thấy giữa bốn người phụ nữ và thảo nguyên trắng xóa này.

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!