Cô Gái Bắc Giang sang Đài Loan làm ô sin để tìm cha đẻ, không ngờ ông chủ lại là người cha thất lạc 40 năm………
—
Đêm đó tôi ngồi một mình trong căn phòng nhỏ ở Kim Môn, mở vali ra và không thấy chiếc túi vải đựng hai kỷ vật quý giá. Tôi lục tung cả đống quần áo, mở từng ngăn tủ, lật từng góc giường, nhưng không có. Không thấy tấm ảnh, không thấy chiếc nhẫn. Tôi ngồi sụp xuống sàn, òa khóc như một đứa trẻ mất báu vật duy nhất. Tôi tên là Trần Thị Khang, sinh năm 1968 tại Bắc Giang. Tôi sang Đài Loan làm giúp việc để tìm cha ruột – một người đàn ông Đài Loan tên Thái Hán Triều, người mà tôi chưa từng gặp mặt. Và giờ đây, tôi đã đánh mất những thứ duy nhất có thể dẫn tôi đến ông.
Tôi vẫn nhớ như in ngày cưới của mình, năm tôi 21 tuổi. Khi tôi khoác chiếc áo dài trắng, người bác ruột đã kéo tôi vào phòng riêng, gương mặt đầy xúc động. Bà đưa cho tôi một gói vải nhỏ, bên trong là một tấm ảnh cũ và một chiếc nhẫn vàng. Bác nghẹn ngào nói: “Khang à, bác không phải mẹ ruột của con. Mẹ ruột con đã mất hai tháng sau khi con chào đời. Trước khi qua đời, mẹ giao con cho bác và dặn tìm con của mình.” Bác kể rằng mẹ tôi tên Hà Thị Hoa, một cô gái Việt Nam từng làm phụ tá bán hàng ở Hồng Kông. Năm 1967, bà gặp một doanh nhân Đài Loan tên Thái Hán Triều, 36 tuổi, trong một chuyến công tác. Cả hai yêu nhau, và mẹ tôi có thai. Nhưng chiến tranh bùng nổ dữ dội, bà ngoại bị bệnh nặng, mẹ tôi buộc phải về Việt Nam gấp. Ông Thái lo sợ chiến tranh sẽ chia cắt hai người mãi mãi, nên đã trao cho mẹ tôi tấm ảnh có chữ ký của ông và chiếc nhẫn vàng khắc tên ông, hẹn ngày tái ngộ. Đó là lời tạm biệt cuối cùng. Mẹ tôi không thể quay lại Hồng Kông vì chiến tranh ngày càng khốc liệt, và hai tháng sau khi sinh tôi, bà qua đời vì bệnh nặng. Bác bảo tôi: “Con hãy giữ hai món đồ này như của hồi môn và tìm cơ hội tìm cha ruột. Người trong ảnh chính là cha của con.”
Cuộc hôn nhân của tôi không thuận lợi. Chồng thất nghiệp, hay đánh đập tôi. Năm 2004, sau khi ly hôn và các con đã lớn, tôi quyết định thực hiện ước nguyện tìm cha. Tôi gói ghém tấm ảnh và chiếc nhẫn, tìm đến công ty xuất khẩu lao động và sang Đài Loan. Tôi được giới thiệu đến thành phố Tân Trang để chăm sóc một bà cụ bị bệnh nặng – đó chính là vợ của ông Thái. Nhưng lúc đó, tôi không hề biết.
Những ngày đầu ở Đài Loan, tôi giấu kỹ gói kỷ vật trong đáy vali. Tôi không cho ai nhìn thấy bởi trước khi đi, bạn bè dặn tôi đừng để chủ nhà biết mình mang đồ vật gì, vì sẽ bị nghi là ăn cắp. Tôi nghe nói bà chủ đã đuổi mấy người giúp việc trước vì không vừa lòng. Nhưng không hiểu sao, tôi lại thấy thương ông bà, và ông bà cũng thương tôi. Có lần ông chủ cho tôi 1.000 Đài tệ để mua thẻ điện thoại gọi về nhà, nhưng tôi không nhận. Ông bảo lần đầu tiên ông gặp người không thích tiền. Tôi đáp: “Cháu rất quý đồng tiền, nhưng cháu không cầm những đồng tiền không phải công sức của mình.” Tôi có cảm giác như mình đang ở trong gia đình với họ vậy.
Một đêm buồn và nhớ con, tôi lấy tấm ảnh và chiếc nhẫn ra ngắm. Tôi khóc, thầm nghĩ không biết đến bao giờ mới tìm được cha. Tôi nghe nói sẽ được nghỉ bảy ngày trong hai năm làm việc, nên định dùng bảy ngày đó để đi dò hỏi. Bất chợt bà chủ gọi, tôi vội dấu gói kỷ vật vào góc tủ quần áo. Một tuần sau, bà chủ qua đời. Tôi phải chuyển sang làm cho một gia đình khác tại đảo Kim Môn. Tôi lo lắng vô cùng, sợ gặp chủ không tốt sẽ bị khổ hoặc phải về nước. Nửa tháng sau khi biết người chủ mới ở Kim Môn tốt bụng, tôi mới dở đồ đạc trong vali ra – và không thấy gói kỷ vật đâu.
Tôi khóc sưng cả mắt. Mãi gần nửa tháng sau, khi đã quen với chủ mới, tôi mới phát hiện mình đã làm lạc mất túi đồ đựng hai kỷ vật của cha. Tôi chỉ còn biết òa khóc. Trong một đợt kiểm tra hộ khẩu thường lệ, tôi đã báo cho cảnh sát Ngoại vụ của sở cảnh sát Kim Môn rằng tôi mất một thứ đồ rất quý và nhờ họ tìm giúp. Cảnh sát đoán rằng tấm hình và chiếc nhẫn có lẽ bị rơi tại nhà chủ cũ, và giúp tôi gọi điện cho ông chủ cũ để nhờ ông tìm giùm trong phòng của người vợ đã qua đời. Sau một hồi tìm kiếm, ông chủ nhà quả đã tìm thấy chiếc túi trong chiếc tủ gỗ.
Ông chủ lúc đó rất thắc mắc: “Đây là cái gì mà quan trọng như vậy?” Ông gọi điện thoại xin phép tôi cho ông mở túi ra xem. Vừa thấy chiếc nhẫn và tấm ảnh cũ đó, toàn thân ông run rẩy không ngừng. Bởi đó chính là kỷ vật mà ông đã trao cho người yêu của mình trước khi chia tay ở Hồng Kông. Lúc đó ông Thái không nghĩ ngợi nhiều và hoàn toàn không hình dung rằng tôi có thể là con gái ruột của ông. Ông chỉ đơn giản muốn hỏi tôi làm sao lại có những món đồ này….
Ông Thái kể: “Tôi đã tìm trong tủ của vợ tôi và khi nhìn thấy cái gói đó, tôi mở ra để xem có gì bên trong. Khi nhìn thấy bức ảnh và chiếc nhẫn, tôi đã gần như ngất đi. Tôi gọi lại cho cảnh sát ở Kim Môn và nói với họ đó là tấm ảnh và chiếc nhẫn của tôi trong cái gói đó. Họ nói mọi chuyện rắc rối quá và bảo tôi nên đến Kim Môn để tôi có thể nói rõ với Khang về chuyện này.” Sau khi bình tĩnh lại, ông Thái quyết định đích thân mang hai kỷ vật này đến Kim Môn và nghe tôi kể lại chuyện cũ.
Khi ông đến gặp tôi, tôi nhìn khuôn mặt ông – một người đàn ông 77 tuổi, tóc bạc phơ. Tôi run rẩy hỏi: “Tên mẹ tôi là gì?” Ông Thái đáp ngay:……
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY 👇👇👇
“Hà Thị Hoa.” Chỉ có tôi và bố mẹ nuôi biết tên mẹ tôi. Tôi bật khóc, thế là chính xác. Ông Thái ôm chầm lấy tôi, vừa khóc vừa nói: “Con đúng là con gái của ta. Ta là cha của con.” Ông nói ông chính là người trong hình, chỉ vì chiến tranh đã ngăn cách một tình yêu và làm cha con ly tán. Tôi nhìn đăm đăm khuôn mặt tái xanh của người đàn ông trước mặt mình mà thì thào: “Cha ơi, con tìm cha khổ quá!” Sự đời thật có muôn nổi đoạn trường. Không ngờ rằng ông chủ mà tôi hàng ngày ra vào gặp mặt lại chính là cha ruột của tôi, người mà tôi chăm sóc là vợ của cha mình.
Sau khi xác nhận được sự thật, ông Thái và tôi đã làm giám định ADN để xác định quan hệ cha con tại Sở Cảnh sát thành phố Kim Môn. Kết quả khẳng định tôi là con gái ruột của ông. Tôi ứa nước mắt nhắc lại cảnh hai cha con gặp nhau: “Lúc đó tôi vừa mừng vừa hận, vừa tủi. Mừng vì gặp cha, hận vì sao ông không đi tìm mẹ và tôi về sau.” Có lần tôi hỏi tại sao cha có vợ rồi mà còn gặp mẹ con, tôi thấy bất công lắm. Cha tôi thành thật: “Thời gian gặp thì ngắn nhưng chuyện thì dài. Đó là cái duyên.” Tôi vẫn chưa dám hỏi chi tiết về mẹ mình và chuyến lưu lạc sang Hồng Kông của bà, vì cha mẹ nuôi tỏ vẻ buồn không muốn nhắc lại, và bác nói rằng mẹ dặn lại: “Chuyện của mẹ với cha là cơ duyên, không phải bị lừa.”
Tìm được cha vào dịp Tết năm 2004, nhưng tôi vẫn tiếp tục làm người giúp việc cho gia đình mới vì chưa hết hợp đồng. Trong khoảng thời gian đó, cứ một hai tháng cha lại đến thăm tôi. Đến cuối năm 2007, vì hết hạn hợp đồng, tôi phải trở về Việt Nam. Lúc này, chồng cũ đã có vợ mới, còn ông Thái ở tuổi 77 đã quyết định sẽ đến Việt Nam để đoàn tụ với con gái. Tuy nhiên, do bệnh tim và huyết áp cao, ông phải nhập viện tại bệnh viện Đài Bắc khiến hành trình đoàn tụ bị trì hoãn. Ông bà Thái có với nhau sáu người con, nhưng sau khi bà Thái mất, ông sống một mình. Tôi muốn chuyển sang Đài Loan để chăm sóc cha vì sức khỏe ông cũng rất yếu. Vì không về Việt Nam làm thủ tục cùng con gái mình được, ông hy vọng các cơ quan chức năng có thể giúp đỡ để tôi nhanh chóng quay lại Đài Loan và để ông làm tròn trách nhiệm người cha mà ông đã không thực hiện được trong 40 năm qua.
Hàng ngày, cứ 8 giờ sáng, tôi lại gọi điện cho cha. Nghe nói người bị bệnh tim dễ ngủ và không tỉnh dậy nữa, nên mỗi sáng tôi chỉ cần nghe thấy tiếng ông “Alô” là nhẹ cả người. Có lần ông đi đánh răng không nhấc máy, làm tôi lo sợ vô cùng. Ông Thái chia sẻ rằng ông rất vui mừng và hạnh phúc vì cuộc đời có thêm một người con gái. Trong những cuộc gọi, ông cảm nhận được cả con gái cũng đang rất mong đợi cuộc gặp này.
Quả là cuộc đời trớ trêu nhưng trời xanh có mắt. Năm 2004, hơn 17.000 người Việt Nam đã nộp đơn xin làm điều dưỡng viên tại Đài Loan, trong đó có hơn 78.000 người phụ nữ vượt qua vòng xét duyệt, và tôi là một trong số đó. Vào thời điểm đó, có khoảng 150.000 nhà tuyển dụng ở Đài Loan có thể đăng ký hợp pháp người giúp việc gia đình. Nếu tôi muốn gặp cha mình, cơ hội là chưa đến 1/150.000. Vậy mà tôi đã gặp được. Như một sự sắp đặt bí ẩn đã giúp ông Thái và tôi kết nối với nhau.
Người ta nói “con người có tổ có tông, như cây có cội, như sông có nguồn”. Nỗi tha thiết tìm về nguồn cội như một bản năng sâu thẳm trong lòng thúc giục những người con thất lạc mẹ cha. Tôi đã đi tìm cha suốt 40 năm, băng qua ngàn dặm, vượt qua biết bao gian truân và nước mắt. Và cuối cùng, tôi đã tìm thấy cha ngay trong ngôi nhà tôi đang làm việc, ở một đất nước xa lạ. Ông chủ mà tôi hằng ngày ra vào gặp mặt lại chính là cha ruột của tôi, người mà tôi vẫn mang trong mình dòng máu từ lúc chào đời.
Giờ đây, mỗi khi tôi nhìn chiếc nhẫn vàng khắc tên cha và tấm ảnh cũ, lòng tôi lại trào dâng cảm xúc. Tôi đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai” mà tôi mang theo suốt cuộc đời. Tôi có nguồn gốc, có gia đình, có cha. Dù đoàn tụ muộn màng, nhưng tôi biết ơn số phận đã cho tôi được gặp cha, được nghe ông gọi tôi là “con gái”. Những năm tháng gian khổ, những đêm khóc một mình vì nhớ cha, tất cả đều tan biến trong cái ôm đầu tiên của hai cha con. Tôi chỉ ước mẹ tôi còn sống để thấy được điều kỳ diệu này.





