Nữ TҺιếu Tướпg Trở Vḕ Sau NҺιệm Vụ Bí Mật, KҺȏпg Ngờ CҺồпg Cũ Và Coп Cȃm Sṓпg Cơ Cực Troпg Gầm…

Nữ TҺιếu Tướпg Trở Vḕ Sau NҺιệm Vụ Bí Mật, KҺȏпg Ngờ CҺồпg Cũ Và Coп Cȃm Sṓпg Cơ Cực Troпg Gầm…
Tôi vừa bước xuống xe ôm ở đầu hẻm thì mưa Sài Gòn bắt đầu nặng hạt hơn. Chiếc áo mưa ni lông màu xanh mỏng tang người lái xe đưa cho tôi bốc mùi ẩm mốc hắc nồng, như mùi của những thứ bị nhét chặt trong cốp xe quá lâu không thấy nắng. Tôi ngồi sau lưng ông ấy, đi qua những con phố quen thuộc mà lòng cứ rối bời. Mười lăm năm. Mười lăm năm dài dằng dặc tôi mang tên khác, sống cuộc đời khác, làm những việc mà ngay cả trong mơ tôi cũng không dám hé miệng. Giấy báo t;ử của tôi đã được gửi về nhà từ ngày ấy. Tôi từng tưởng, ngày trở về sẽ là ngày được đón rước đàng hoàng, anh Huy ôm tôi khóc, con Mai chạy ùa vào lòng. Nhưng tôi từ chối xe quân đội. Tôi không muốn khu tập thể rêu phong ấy xáo trộn. Tôi sợ. Sợ cái khoảng không vô định đang chờ đợi mình.
Xe ôm dừng lại. Tiếng phanh rít chói tai trên mặt đường trơn trượt khiến tôi giật mình nép vào bức tường gạch bám đầy rêu xanh. Con hẻm vẫn y nguyên, chỉ ngọn đèn đường đổi khác, ánh vàng hắt xuống những vũng nước lõm bõm. Tôi đứng đó hồi lâu, tay siết chặt quai túi, trong đầu chỉ quẩn quanh một ý nghĩ: anh Huy sẽ phản ứng thế nào? Anh ấy là người điềm đạm, cẩn trọng, chưa bao giờ mất bình tĩnh. Tôi hít sâu một hơi, rũ bỏ áo mưa rồi rón rén bước vào hành lang.
Từng bậc cầu thang xi măng chóc lở đều gợi ký ức cũ. Tôi lên đến tầng ba, hành lang tối om, mùi tỏi xào từ nhà nào đó bay ra nhè nhẹ. Căn hộ 304 thì tắt đèn. Tôi đưa tay định gõ cửa nhưng tay khựng lại. Cánh cửa gỗ sơn xanh dương ngày xưa giờ chóc lở hết, hai cái khoen cửa treo một chiếc ổ khóa đen xỉn, gỉ sét to bằng nắm tay. Mạng nhện giăng đầy góc khung. Căn nhà đã nhiều năm không mở. Tôi đứng lặng, ngỡ ngàng xen lẫn nỗi sợ mơ hồ. Mười lăm năm qua, tôi vẫn tin anh ấy sống ở đây cùng con. Vì lý do bảo mật, tôi bị cắt đứt hoàn toàn thông tin gia đình. Vậy mà giờ… anh ấy đi đâu? Chuyển nhà? Hay đã đi bước nữa?
Nhưng lúc đó tôi không hề biết rằng sự thật phía sau hoàn toàn khác biệt với những gì tôi tưởng tượng.
Tôi lùi lại một bước, định đi tìm bà tổ trưởng dân phố thì ánh sáng vàng vọt hắt ra từ gầm cầu thang tầng trệt. Chỗ ấy vốn ẩm thấp, chặt hẹp, bốc mùi hôi thối. Hôm nay lại có ánh đèn sợi đốt bám đầy bụi và mùi dầu máy khét lẹt ngai ngái trộn lẫn ẩm mốc. Tôi bước lại gần, mắt quen dần với ánh sáng mờ. Không gian bé xíu chỉ chừng hai ba mét vuông. Một tấm nệm mỏng cáu bẩn kê sát vách, cái bàn gỗ vẹo thấp lè tè với mâm cơm đậy lồng bàn nhựa xanh nhạt bám dầu mỡ. Xung quanh treo lủng lẳng đủ loại đồng hồ cũ nát, tiếng tích tắc đều đặn vang lên như nhịp tim của một con người đang cố gắng sống sót.
Dưới ngọn đèn, bóng dáng một người đàn ông ngồi khom lưng, vai gầy guộc nhô lên dưới chiếc áo sơ mi sờn bạc ngả cháo lòng. Tay anh cầm kẹp nhíp tỉ mẩn gắp bánh răng li ti của chiếc đồng hồ đeo tay cũ. Tôi nhận ra ngay đó là Huy. Tim tôi như bị ai bóp nghẹt. Một kỹ sư hàng đầu, người từng có bản vẽ báo cáo cấp thành phố, giờ chui rúc dưới gầm cầu thang sửa đồng hồ cũ kiếm từng đồng lẻ. Tôi đứng sững ở chân cầu thang. Anh ấy ngừng tay, quay đầu lại. Khoảnh khắc ánh mắt chạm nhau sau mười lăm năm sinh ly tử biệt, tôi chờ sự chấn động, tiếng thảng thốt, thậm chí là nước mắt. Nhưng không. Ánh mắt anh tĩnh lặng, rửng rưng đến đáng sợ. Anh lướt qua bộ quân phục tôi đang mặc, rồi thản nhiên cúi xuống, vơ điếu thuốc lá cháy dở, rít một hơi dài, tiếp tục vặn ốc vít. Như thể sự xuất hiện của tôi chẳng có ý nghĩa gì.
Sự thản nhiên ấy khiến tôi như bị tát thẳng vào mặt. Tôi bước hẳn vào trong gầm cầu thang, cúi khom người để không va đầu. Không gian ngột ngạt, mùi dầu máy, khói thuốc và xi măng ẩm bốc lên khiến tôi khó thở. Giọng tôi mỏng tang: “Anh Huy… em về rồi. Em vẫn còn sống.” Anh dừng tay, lau ngón tay bằng miếng rẻ rách, giọng trầm khàn lạnh lẽo: “Cô đứng nhích sang một bên. Bóng cô che mất ánh sáng.” Không hỏi han, không kinh ngạc. Chỉ một câu xin nhường ánh sáng. Tôi xê dịch, nước mắt trực trào. Tôi tuôn ra hết: nhiệm vụ quốc gia, giấy báo tử giả, cuộc sống giả danh, nỗi nhớ da diết suốt năm nghìn ngày. Anh vẫn cắm cúi quét bụi trên mặt kính đồng hồ. Tiếng cọ sột soạt. Sự bình thản của anh như bức tường bê tông không thể lay chuyển.
Tôi đảo mắt nhìn quanh. Mâm cơm nguội ngắt chỉ có rau muống luộc, bát nước mắm và hai bát cơm. Bên cạnh là khung kính lồng tờ giấy báo tử của tôi, đặt ngay trên bàn ăn. Không phải bàn thờ, không phải tủ kính. Nó nằm sát bát cơm, mặt kính sáng bóng giữa đống cáu bẩn. Tim tôi vỡ vụn. Tôi định chạm vào thì giọng anh vang lên sắc lạnh: “Đừng chạm vào đồ của gia đình tôi.” Anh đứng dậy, che khuất ánh đèn. Tôi gào lên, chỉ vào tờ giấy: “Em đang đứng đây! Sao anh ôm khư khư cái giấy chứng tử giả ấy để hành hạ bản thân và con?” Tôi nhào tới định hất tung khung kính.
Bất ngờ, một bóng đen nhỏ bé từ góc tối vụt ra, lao vào bụng tôi với lực đẩy kinh hoàng. Tôi loạng choạng suýt ngã. Đứng chắn giữa tôi và khung kính là một đứa con gái mười lăm mười sáu tuổi, mặc áo phông xám sờn, tóc cắt ngắn sơ xác. Đôi mắt to tròn đen láy giống hệt tôi, nhưng lúc này đỏ ngầu đầy hoảng loạn và căm phẫn. Con bé dang rộng hai tay gầy guộc làm tấm khiên che mâm cơm, che tờ giấy báo tử và che cha nó. Đó là Mai. Con gái tôi. Đứa bé một tuổi ngày tôi đi giờ đã lớn thế này. Tôi gọi run run: “Mai ơi, mẹ đây, mẹ Lan của con đây.” Con bé lùi lại, lưng va vào tường, móng tay cào cấu xi măng sột soạt. Rồi từ cuống họng nó bật ra những tiếng ú ớ khò khè, không phải lời nói mà là tiếng thú hoảng loạn.
Anh Huy kéo con bé ra sau lưng, giọng đặc quánh: “Cô đừng é;p nó nữa. Nó không nói được đâu. Mười lăm năm nay nó chưa từng gọi tôi một tiếng cha. Cô mong chờ gì ở việc nó gọi cô là mẹ?” Lời anh như gáo nước đá dội thẳng vào mặt. Tôi hỏi lấp bấp về vụ cháy. Anh kể đêm đó anh bật bếp gas đun sữa, ra ban công hút thuốc, quên trước quên sau vì mất vợ. Lửa bùng từ bếp, gió thổi hất vào buồng ngủ. Anh lao vào cứu con, Mai bị bỏng nặng, ngạt khói và mất giọng từ đó. Tôi khóc nức nở, nhưng trong đầu tôi khựng lại. Bản báo cáo tình báo năm xưa ghi gió đông nam thổi mạnh từ ban công. Nếu lửa từ bếp, gió phải ép lửa ra ngoài chứ không hất ngược vào buồng ngủ. Anh đang nói dối.
Tôi ép anh: “Gió đông nam thổi từ ban công vào, lửa không thể từ bếp lan ngược chiều gió được. Lửa bắt nguồn từ đống thùng carton ngoài ban công. Ai đó đã châm lửa g;iết cha con anh.” Anh thót người, tay lau mặt kính đồng hồ điên cuồng. Tôi tiếp tục truy vấn. Mai hoảng loạn, cuốn sổ rơi xuống. Tôi nhặt được, mở ra thấy trang giấy vẽ bằng than chì đen kịt: đôi giày da nam mũi nhọn bóng loáng, xung quanh là những vệt lửa cuồn cuộn. Trang nào cũng chỉ một hình ảnh ám ảnh ấy. Con bé gật đầu xác nhận: đôi giày của kẻ châm lửa. Anh Huy ngồi bệt xuống, nước mắt dàn giụa. Anh kể con bé chỉ thấy đôi giày vì tầm nhìn thấp trong cũi, và tiếng gót giày cộc cộc giữa ngọn lửa. Mười lăm năm anh treo đồng hồ để tạo tiếng tích tắc che lấp nỗi sợ của con với tiếng bước chân. Anh không dám dọn đi vì con nhạy cảm với âm thanh ấy.
Tôi siết chặt cổ tay anh: “Vết than chì trên tay Mai còn mới. Bọn chúng vẫn lượn lờ quanh đây đúng không? Anh cố tình bám trụ ở đây để chúng nghĩ anh đã bị bẻ gãy hoàn toàn.” Anh im lặng, vai run rẩy. Rồi anh chỉ tay về phía tủ đồ nghề mục nát ở góc tối: “Đó là… mạ;ng số;ng của cha con tôi…” Nhưng anh chưa kịp nói hết thì……………
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
👇👇👇
Ngay lúc đó, từ ngoài hành lang tối om, tiếng bước chân vang lên. Cộc cộc cộc. Tiếng gót giày da cứng nện xuống nền bê tông. Mai hét thất thanh rồi ngất lịm. Anh Huy đẩy tôi vào góc tối, trùm bạt nilon lên người tôi, rít qua kẽ răng: “Câm lặng. Không được thở mạnh.”
Ba gã đàn ông mặc vest tối màu bước vào. Gã đi đầu mang đôi giày da đen mũi nhọn bóng loáng – chính đôi giày Mai vẽ. Hắn đá nhẹ vào chân bàn, giọng ồm ồm: “Thế nào? Lão vẫn chưa dọn đống rác này đi à? Ban quản lý phường ra lệnh giải tỏa gầm cầu thang để phòng cháy từ tuần trước rồi.” Anh Huy quỳ xuống, nụ cười nịnh bợ hèn mọn, van xin thêm vài ngày. Gã ném sấp tiền lẻ vào mặt anh, rồi đạp tung tủ đồ nghề. Đồ đạc văng tung tóe. Anh Huy hoảng loạn lao tới ôm chặt một quả lắc đồng hồ gỗ sồi cũ nát. Gã thứ hai giơ chân định đá. Tôi không nhịn được nữa. Hất tung tấm bạt, bước ra, giọng lạnh tanh: “Dừng lại.”
Cả ba gã giật bắn. Tôi rút thẻ ngành, chỉ vào huy hiệu chim ưng nửa bánh răng trên ve áo chúng: “Đường dây của các ngươi tôi biết rõ. Mười lăm năm trước tôi đã gỡ nó xuống từ cổ đàn anh các người. Từ nay đừng động vào gia đình tôi.” Chúng lùi lại, gã đi đầu buông lời đe dọa rồi rút lui vào mưa. Không khí ngột ngạt. Anh Huy vẫn ôm quả lắc, run bần bật. Tôi quỳ xuống, chạm vào cổ tay anh. Lực anh nới lỏng. Quả lắc nứt toác, một cuộn phim máy ảnh rơi ra. Anh ôm cuộn phim vào ngực, nước mắt trào: “Đó là mạng sống của cha con tôi, Lan ơi.”
Anh kể hết. Chiều hôm đó thợ sửa ảnh quen đưa cuộn phim cho anh vì phát hiện ảnh giao dịch đen và chứng cứ giết nhân chứng của gã giám đốc tập đoàn tội phạm. Anh định giao cho tôi nhưng tôi đã “chết”. Bọn chúng giết thợ ảnh, lần ra anh, châm lửa thiêu nhà để diệt chứng cứ. Anh cứu Mai, giấu phim trong quả lắc, thỏa thuận với chúng: anh ở lại khu tập thể, tự biến thành gã thợ sửa đồng hồ tàn tạ để chúng giám sát, đổi lấy mạng con. Mười lăm năm anh chịu nhục, ném tiền vào mặt, giẫm đạp nhân phẩm chỉ để Mai được thở.
Tôi siết cuộn phim trong tay. Đêm ấy bọn chúng quay lại. Tiếng chuông điện thoại báo tin nhắn: “Vợ mày chưa chết. Cẩn thận cuộn phim.” Chúng biết hết. Tôi lên đạn khẩu súng 54, gọi hỗ trợ ngầm. Bên ngoài, xe đặc nhiệm ập đến, ánh đèn pha rực sáng, còng tay lách cách. Bọn chúng bị khống chế trong ba phút. Cuộn phim được chuyển đi, đường dây sụp đổ. Bình minh lên, khu tập thể yên bình trở lại.
Tôi ngồi bên anh Huy trên bậc thềm, nắng mai hắt qua. Tôi đề nghị đưa hai cha con về dinh thự quân đội, an toàn, bác sĩ chữa cho Mai. Anh lắc đầu nhẹ nhàng: “Mười lăm năm thế giới của anh và con chỉ là hai mét vuông này. Anh không còn là kỹ sư kiêu hãnh nữa. Anh chỉ xin em một mặt bằng nhỏ trên phố Thụy Khuê, mở tiệm sửa đồng hồ đàng hoàng. Mai ngồi cạnh cửa sổ lau kính, nhìn đời thường. Nó cần tự bước ra, không phải cái lồng nào dù lồng vàng.” Tôi lặng người, nhưng rồi gật đầu. Nước mắt rơi.
Ba ngày sau chúng tôi dọn gầm cầu thang. Anh mở tiệm Huy Thời Gian. Mỗi chiều tôi ghé qua sau ca làm, thấy Mai lau mặt đồng hồ, mỉm cười vẫy tay trẻ con đi học. Con bé vẫn chưa nói nhiều, nhưng ánh mắt trong veo. Một buổi sáng, chúng tôi ăn phở mua đầu ngõ trong những cái bát sứt mẻ. Mai ăn xong, nhúng ngón tay vào bát nước mắm, vụng về viết trên mặt bàn gỗ: “Mẹ”. Chữ méo mó, nồng mùi mắm, nhưng vang vọng hơn mọi tiếng gọi. Tôi ôm con, vòng tay siết chặt. Anh Huy ngồi đối diện, mỉm cười mệt mỏi nhưng thanh thản.
Mười lăm năm qua, tôi tưởng mình là người chịu thiệt thòi nhất. Nhưng anh ấy mới là người hy sinh cả cuộc đời, bẻ gãy sĩ diện để giữ ngọn đèn cho con. Giờ đây chúng tôi không sống chung dinh thự sang trọng, nhưng mỗi tối tôi ghé tiệm ăn cơm, nghe tiếng đồng hồ tích tắc bình yên. Không còn là nhịp đếm ngược sợ hãi, mà là nhịp sống trở lại. Tôi thường ngồi nhìn hai cha con, lòng đầy tiếc nuối. Giá như ngày ấy tôi không nhận nhiệm vụ, giá như tôi ở nhà… Nhưng cuộc đời không cho phép giá như. Chỉ còn lại nỗi buồn man mác, và biết ơn vì cuối cùng chúng tôi vẫn tìm về được nhau, trong sự bình dị nhất.
Lưu ý: Nội dung bài viết được hỗ trợ thực hiện bởi công nghệ trí tuệ nhân tạo, những tình huống, nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn là hư cấu, nhằm mục đích răn dạy những quan điểm, góc nhìn về cuộc sống. bài viết không nhắm đến bất kỳ cá nhân, tổ chức nào!

Bài viết mới cập nhật:

Chia sẻ bài viết:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!